(Tiếp theo và hết)
Những trầm tích văn hóa mang sắc màu thần bí
Giáp Ngọ niên bình Nam đồ không chỉ đơn thuần là một tập bản đồ hành chính – quân sự mà còn là một công trình nghệ thuật địa lý quan trọng của triều Lê – Trịnh, tác phẩm còn gói ghém cả những trầm tích văn hóa truyền miệng mang sắc màu huyền bí. Những bức họa đồ được vẽ trong bối cảnh quân Trịnh tiến vào Thuận Hóa, là “cuốn phim tư liệu” quý ghi lại diện mạo vùng đất Đàng Trong dưới ngòi bút của một nhà tham mưu tác chiến, một tướng quân dạn dày trận mạc trực tiếp tác nghiệp bản đồ. Tập bản đồ tuy với những đường nét khá giản lược nhưng trong đó vẫn hàm chứa những câu chuyện thần thoại khá li kì.
Trong bức bản đồ số 6, cụ Đoan quận công kịp đánh dấu ghi lạị những câu chuyện thú vị qua việc sử dụng lại các nguồn thư tịch cổ. Tại ô 2-B, tạm định vị ngày nay ở vùng thượng nguồn sông Trà Khúc, bên trên dòng chú Bút Sơn Ấn, nơi có đến 7 ngọn núi liên tiếp nhau chạy dài theo hướng tây bắc – đông nam, bắt đầu từ ô 4-B qua 3-B rồi kết thúc ở 2-B, nơi có ngôi chùa (tự) chú là: những lũng sâu do Cao Biền đào xới…(Cao Biền đoạn lũng, 2-B), chưa biết nay thuộc xã nào (?) .
Ngày còn bé, nghe kể chuyện Cao Biền, ông tướng nhà Đường (618 – 907) với quyền năng thần thông biến hóa khôn lường. Ông tướng Tàu này tài giỏi hơn người, lại vừa gian manh, hiểm ác; cưỡi diều giấy như lái B-2 Sprit “bóng ma bầu trời” của Mỹ đi khắp nơi tìm long mạch của nước Nam để trấn yểm cho bằng “tịt” đường vương tướng xứ này. Trong một lần, trên đường “công cán” đến đất Chiêm (Phú Yên), ông đáp xuống Cổ Lũy động quê tui để dạo chơi, rồi cày xới núi sông để tìm huyệt đạo. Ông vung gươm chém nhiều nhát sắc lạnh vào con Rồng đất linh thiêng dài hàng chục dặm, đầu đang giỡn nước (hý thủy) bên bến sông Trà; kết quả ông đã thất bại vì linh khí nước Nam còn quá vượng, nhưng hiện trường ông để lại ngày nay nào những núi Châu Đầu, Truông Giao, Long Đầu, Hàm Rồng…toàn những phong cảnh tuyệt vời.
Về phía bắc, ô số 4-B, nơi 3 ngọn núi có chú thích An Mỹ – Khố – Châu Ổ, đây là những địa danh có kho đụn do triều đình bố trí để thu nguồn lợi địa phương cho ngân khố quốc gia. Theo sách Phủ biên tạp lục, trong số 12 kho chính của xứ Quảng Nam xưa thì Bình Sơn huyện có đến 2 kho lớn, đó là kho Tư Cung và kho An Khang (ở đây chú là kho An Mỹ, có thể sai do dịch thuật), còn 2 huyện Chương Nghĩa (gồm cả Nghĩa Hành) và Mộ Hoa (gồm Đức Phổ) chỉ có 1 kho chính là kho Phú Đăng, sau này còn có kho Đất Thẩm ở hạ lưu Sông Vệ (Bản đồ số 7).
Phía dưới ô 4-C, một chi lưu khác của sông Trà Bồng, đây là một ngòi nước, quê tui hay gọi là suối hoặc bàu, đoạn này ước chừng cầu Ô Sông hoặc Cầu Cháy (Bình Long, Bình Hiệp cũ), có dòng chú thích Thế Cô – kiều; dòng chữ nhỏ bên cạnh cho biết, cầu này ngày xưa có con hổ và con sói phụ đỡ cầu (cho người qua lại) sau đó chết, từ đó người địa phương đặt tên là cầu Hổ Lang (cựu hữu hổ lang phụ kiều nhi tử, nhân hô Hổ Lang kiều). Đây là một câu chuyện khá hoang đường, đầy ngộ nghĩnh nhưng cũng rất nhân văn! Khả năng ngày xưa đi mở đất, người Việt đến đây khi còn lắm phong lam chướng khí, rừng núi hoang vu nên hổ, sói, mãnh thú còn sống chung với con người, việc thờ mảnh thú như một sự cầu nguyện phước lành của cư dân đi mở đất phương Nam, còn ngày nay các bác nhà ta chắc đã chén thịt và nấu cao lâu rồi…
Về phía dưới, ngoài khơi cửa Sa Kỳ, tác giả phát họa một ngọn núi đứng chắn giữa cửa biển, nơi mà “vết tích” cho câu chuyện huyền thoại về Người Khổng Lồ nấu rượu, gánh cả núi về để chắn gió cho Lò rượu khổng lồ (ở ô 3-D), nhưng bị đứt quai gánh rơi xuống mà thành hai quả núi, một là núi Bàn Than (ngoài biển) và núi Răm bây giờ; thế mới biết quê tui ngày nay toàn những hậu duệ thượng thặng của ông khổng lồ uống rượu…vặt!
Vài nét về 2 tác giả: Đỗ Bá Công Đạo và Bùi Thế Đạt
Có điểm chung: cụ Đạo, cụ Đạt đều là con dân xứ Nghệ (cụ Đạọ ở Thanh Chương, còn cụ Đạt ở Diễn Châu), giỏi phết! 2 cụ đều học rộng, tài cao; trên thông thiên văn, dưới tường địa lý. Cả hai đều là công bộc dưới triều Lê Trung hưng; sếp bề trên của cụ Đạo là Định Nam vương Trịnh Căn (1633 – 1709), sếp cụ Đạt là Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm (1739 – 1782), cách nhau chừng trên dưới trăm năm.
Về đường quan lộ thì cụ Đạt phất hơn cụ Đạo, cụ Đạt làm quan đến tước “công” (Đoan Quận công), còn cụ Đạo chỉ mới được ban tước “nam” (Đoan Triều nam), tước bé nhất trong ngũ tước (công, hầu, bá, tử, nam). Về đường quân công cụ Đạt tham gia đánh dẹp khắp nơi, từ Thái Nguyên, Hưng Hóa, Trấn Ninh rồi đến Thuận Quảng đều thắng cả. Trước khi được sếp Sâm cất nhắc cử làm phó tướng đánh dẹp Phú Xuân, cụ từng là Trấn thủ Nghệ An. Ở đó, ngoài việc “chăm lo” cho con dân xứ Nghệ cụ còn có nhiệm vụ nghe ngóng, thu thập tin tức tình báo từ phiên trấn phía nam Hoành Sơn. Ngay tháng Năm năm Giáp Ngọ cụ đã fax về Đông Đô một bản tin hỏa tốc “tuyệt mật”: Phú Xuân có loạn, ngoại thích Trương Phúc Loan chuyên quyền, tác yêu tác quái, triều thần rệu rã. Tây Sơn thượng, biện Nhạc họp bè đảng chống lại triều đình Phú Xuân, càng lúc càng mạnh… Đây là cơ hội trăm năm có một. Cúi xin Chúa Thượng ra tay kẽo muộn…! Vậy là công tích của cụ cứ thế ngời ngời.
Cụ Đạo thì có vẻ yếm thế hơn. Đường học hành khoa bảng tử tế đang bề hiển đạt, thi đỗ Giám sinh nhưng cụ chẳng màng đến nghiệp “công hầu áo tía”. Khi đương nhiệm Tri huyện Thạch Hà, một vị trí khởi nghiệp mà bao kẻ phải “ngước nhìn”, lắm người rỏ dãi thì đùng một cái cụ từ quan, dứt gánh ra đi, thích phiêu bạt, thích tự do phóng túng. Cụ xuôi dòng Lam giang, giả thành một thương lái rồi men theo thiên lý cù, xuyên hải đạo vào Nam, rong chơi cho phỉ chí tang bồng. Sau cuộc nam du tưởng chừng như vô bổ đó cụ đã tích cóp đủ tư liệu để cho ra đời một tác phẩm để đời Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư dâng lên vua Lê – chúa Trịnh. Với tác phẩm này, rõ ràng cụ Đạo là người đầu tiên đề cập đến chủ quyền của người Việt trên bãi Cát Vàng (Hoàng Sa chử), quần đảo nằm ngoài khơi huyện Bình Sơn, Quảng Ngãi quê tui (mãi sau mới thuộc về Đà Nẵng). Và cũng chính vì ý tưởng vượt thời gian này, mà ngày nay một số thành phố ở VN có tên đường mang tên cụ là Đỗ Bá; hiện ở thành phố Đà Nẵng, địa phương quản lý về hành chính đối với Bãi Cát Vàng (quần đảo Hoàng Sa) cũng có tên đường phố Đỗ Bá, ở phường Ngũ Hành Sơn. Thế cũng đáng một kiếp phiêu bồng!
Về tác phẩm
Ngày nay tác phẩm của 2 cụ được đóng chung trong một tập, người đời sau gọi là “Hồng Đức bản đồ”. Tuy nhiên, bản chính “Hồng Đức bản đồ” (1490, thời Lê Thánh Tông) đã thất truyền, nên có thể các cụ đã còn kịp kế thừa nguồn dữ liệu nền địa lý bản đồ thời Hồng Đức và thời các chúa Nguyễn cai trị Đàng Trong để xây dựng tác phẩm của mình, nhất là Đoan quân công Bùi Thế Đạt với Giáp Ngọ niên bình Nam đồ. Ngày nay, theo ý kiến của một vài học giả, cũng như qua phân tích, đối chiếu các thư tịch cổ cho thấy: cụ Đạt đã xây dựng Giáp Ngọ niên bình Nam đồ dâng lên chúa Trịnh, trong đó có những địa danh rất cổ, chưa kịp cập nhật sự thay đổi theo tên ở thời điểm hiện tại, với những vùng đất mà chính cụ cũng chưa hề đặt chân tới, đó là phần đất từ đèo Hải Vân trở vào Nam.
Mùa xuân năm Ất Mùi, sau khi chiếm được Phú Xuân một cách dễ dàng, tháng Ba, cụ Việp (Hoàng Ngũ Phúc) giao cụ Đạt ở lại Huế nhằm ổn định tình hình vùng đất Thuận Hóa vừa chiếm được, còn mình đích thân đốc quân tiếp tục truy kích Hoàng tôn Dương theo ngả Hải Vân, tiến đánh Quảng Nam. Quân Trịnh vượt đèo giải giáp phòng tuyến sông Cu Đê, chiếm Cẩm Lệ, Thúy Loan, Liên Chử (Chiểu), đến ngày 5 tháng Tư thì bắt được mẹ và vợ chúa Phúc Thuần và đám tùy tùng nội cung phần lớn là phụ nữ và trẻ em.
Sau trận đại chiến Cẩm Sa (Điện Bàn) thất bại, quân Tây Sơn kịp “phò tống” Hoàng tôn Dương (lúc này đã lập làm Đông Cung Thế tử) lui về phía nam sông Bến Ván (Bản Tân, Núi Thành), rồi về Quy Nhơn; quân Trịnh mấy tháng liền đóng quân ở Châu Ổ (Bình Sơn) để cầm cự. Đến tháng Chín cùng năm, vì dịch bệnh và thiếu đói nghiêm trọng, không còn khả năng vượt được phòng tuyến Châu Ổ của Tây Sơn, Việp công hạ lệnh triệt thoái khỏi Quảng Nam, tháng Mười về đến Huế.
Theo cuốn Việt sử xứ Đàng Trong (Nxb Khai Trí, SG, 1969) của học giả Phan Khoang thì sau khi chiếm được Thuận Hóa, lược định Quảng Nam (1775), lão tướng Hoàng Ngũ Phúc vì mắc bệnh dịch xin về Bắc (rồi mất dọc đường), giao lại toàn quyền cho Đoan quận công Bùi Thế Đạt ở lại cai quản đất này, rồi đến cuối tháng Tám năm sau cụ Đạt cũng được triệu hồi về Bắc, rồi mất, thay vào đó là ê kip: Phạm Ngô Cầu, Nguyễn Lệnh Tân, Nguyễn Mậu Dĩnh…còn số Lê Quý Đôn, Phan Trọng Phiên mới “tăng cường” vào được 6 tháng cũng về luôn cùng với cụ Đạt. Như vậy trong suốt cuộc Nam chinh lần này cụ Đạt có vẻ vẫn chưa vượt qua được đèo Hải Vân và cũng chưa từng tham chiến ở chiến trường khốc liệt Quảng Nam, thì lấy đâu ra dữ liệu thực tế để vẽ nên Giáp Ngọ niên bình Nam đồ, nếu như không có nguồn tư liệu bản đồ nhà Nguyễn (?).
Sau cuộc thoái lui của quân Trịnh vào mùa Thu năm 1775, vùng đất Quảng Nam (từ nam Hải Vân đến Phú Yên) gần như đã toàn quyền thuộc về Tây Sơn, tuy Tây Sơn vương vẫn “nhún nhường” trước cảnh “tứ bề thọ địch”, sai Tùy tướng Phạm Văn Tuế ra Châu Ổ xin Việp công được quy thuận nhà Lê, trên danh nghĩa là dâng đất 3 phủ: Quảng Nghĩa, Quy Nhân và Phú An để …”câu giờ”. Thực chất nhà Lê (Trịnh) lúc này chỉ còn cai quản Thuận Hóa (từ bắc Hải Vân ra đến Đèo Ngang) cho mãi đến khi thất thủ vào tay Nguyễn Huệ (1786). Những cứ liệu lịch sử cho thấy, trong 12 năm chiếm được Thuận – Quảng, nhà Lê (Trịnh) không có quyền hành thực tế trên vùng đất Quảng Nam.
Qua việc đối chiếu Giáp Ngọ niên bình Nam đồ với các thư tịch cổ như Đại Nam nhất thống chí, Lịch triều hiến chương loại chí, Hoàng Việt nhất thống dư địa chí cùng thực địa ngày nay, có thể thấy bức Bản đồ số 6 không chỉ đơn thuần là một tư liệu quân sự phục vụ cuộc Nam chinh năm 1774, mà còn là một “ký ức không gian” quý giá về vùng đất Quảng Ngãi – Quảng Nam cách nay hơn hai thế kỷ. Những dòng sông, cửa biển, núi non, làng chợ, huyện trị… hiện lên vừa mộc mạc vừa sinh động, phản ánh khá chân thực diện mạo tự nhiên và hành chính của xứ Đàng Trong cuối thời Lê – Trịnh.
Điều thú vị hơn cả là nhiều địa danh trên bản đồ tuy đã đổi thay theo thời gian nhưng dấu tích vẫn còn lưu lại đâu đó trong dân gian, thư tịch và ký ức cộng đồng. Từ núi Thình Thình, cửa Sa Kỳ, sông Châu Ổ đến Mỹ Khê, Tư Cung…, tất cả như những lớp trầm tích lịch sử nối liền quá khứ với hiện tại.
Bởi vậy, đọc một tấm bản đồ cổ không chỉ là xem địa lý, mà còn là hành trình tìm lại hồn xưa của quê hương trên từng nét mực cũ.






































