Quê tôi qua GIÁP NGỌ NIÊN BÌNH NAM ĐỒ

Giáp Ngọ niên bình Nam đồ là tập bản đồ được cho là của Đốc suất – Đoan Quận công Bùi Thế Đạt vẽ vào năm Giáp Ngọ, trong cuộc Nam chinh đuổi chúa Nguyễn khỏi Phú Xuân (Huế, 1774), trước khi quân Lê – Trịnh tại đây bị nhà Tây Sơn hạ “đo ván” vào năm 1786. Giáp Ngọ niên bình Nam đồ ngày nay được ấn bản chung trong Toản tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá hay Đỗ Bá Công Đạo. Đây cũng là tập bản đồ rất quan trọng của nhà Lê – Trịnh, vẽ bốn hướng đi (tứ chí lộ đồ) xuất phát từ Đông Đô (Thăng Long), được công bố lần đầu vào năm Chính Hòa thứ 7 (1686).
Giáp Ngọ niên bình Nam đồ gồm 14 bức, thể hiện sơn xuyên, hình thế của xứ Đàng Trong vào thời điểm năm Giáp Ngọ – 1774 (từ Đèo Ngang đến biên giới Cao Miên), nhưng thực chất là đến hết vùng Tây Nam Bộ và cả Campuchia ngày nay (Bản đồ số 14). Trong khuôn khổ bài viết này, chỉ xin đề cập bức Bản đồ số 6, có liên quan đến đất Bình Sơn, Quảng Ngãi – quê tui.
Thử định vị địa danh trên Bản đồ số 6
Ngày nay, bản đồ hiện đại cơ bản đều xác định theo nguyên tắc Nam – Bắc; theo đó, phía trên bản đồ là hướng Bắc thực, các hướng còn lại tự xác định (trên = Bắc, dưới = Nam, phải = Đông, trái = Tây). Còn các cụ ta xưa vẽ bản đồ thường theo nguyên tắc Đông – Tây (trên = Tây, dưới = Đông…), vì vậy người xem Giáp Ngọ niên bình Nam đồ phải nhìn theo hướng từ Biển Đông vào. Phía trên xa xa là hình ảnh những đỉnh núi chập chùng phía Tây (Tây Nguyên); các hướng Bắc, Nam là phải, trái theo đó mà xác định.

Bản đồ số 6 trong Giáp Ngọ NBNĐ

Nhìn vào bức Bản đồ số 6, trên cùng góc phải (khung màu vàng – TG), tại tọa độ cột 6-A và 7-A có hai dòng chú thích: “Quảng Nghĩa phủ – Thăng Hoa phủ giáp”, là địa giới giữa phủ Thăng Hoa và phủ Quảng Nghĩa thuộc dinh trấn Quảng Nam xưa. Theo cuốn Lịch triều hiến chương loại chí (1819) của cụ Phan Huy Chú, ta có thể hình dung đây là địa giới giữa Hà Đông huyện (sông Bến Ván, An Tân) thuộc Thăng Hoa phủ và Bình Sơn huyện (trước là Trì Bình rồi Bình Dương huyện) thuộc Quảng Nghĩa phủ tam huyện (Chương Nghĩa, Bình Sơn, Mộ Hoa).
Từ điểm tiếp giáp này, về phía dưới, cả một trục ngang ký hiệu “B” là những dãy núi điệp trùng như những cánh cò bay – chính là dãy Trường Sơn hùng vĩ chạy dọc theo dải đất hẹp miền Trung. Tiếp theo là bức tranh chủ đạo với hệ thống sông ngòi chằng chịt đổ ra bốn cửa biển chính là: Tiểu hải môn (ô 1-D), Sa Kỳ hải môn (2-D), Châu Ổ hải môn (4-D) và phía Bắc là Hòa Hợp hải môn (7-D); theo Đại Nam nhất thống chí gọi là cửa Hiệp Hòa, Đại Áp… Đây là vùng châu thổ do ba hệ thống sông ngòi tạo ra, có thể tạm xác định gồm: hệ thống sông Trà Khúc (bên trái), sông Châu Ổ – Trà Bồng (ở giữa) và phía Bắc là hệ thống sông Trường Giang, Bản Tân (Bến Ván), sông Tam Kỳ (Quảng Nam), như hình chiếc lược khổng lồ cùng hòa vào cửa Kỳ Hà ngày nay.

Giữa bản đồ, theo trục đứng, một con sông chính phát nguyên từ dãy núi ở phía Tây (ô 5-B), chảy xuôi qua các ô 5-C và 4-D rồi hợp cùng ba chi lưu khác; hai chi lưu phía Nam và một chi lưu phía Bắc ngắn hơn đều chảy vào một cửa biển có chú thích: “Châu Ổ hải môn”, tức cửa Sa Cần, cảng Dung Quất thuộc xã Vạn Tường ngày nay.
Bên cạnh con sông này, ở mạn Bắc, ô số 5-C chú thích: “Bình Sơn huyện trị – Thái Khang xã” (khung màu xanh dương – TG), là trị sở, trung tâm hành chính xưa của huyện Bình Sơn nằm tại xã Thái Khang; phỏng chừng nay thuộc địa bàn xã Bình Trung hoặc Bình Dương (cũ). Ở đoạn giữa con sông có chỗ phình ra như một cái đầm, chú là “Thủy Triều”; phía trên (5-B) vẽ hình ngọn núi và ao hồ giống một chiếc giày phụ nữ, ghi là “Núi Đất” (Thổ Sơn), chùa Lục Thanh, chưa rõ nay ở vị trí nào (?).
Điều đáng nói ở đây là tác giả chú thích huyện trị Bình Sơn ở phía Bắc sông chứ không phải phía Nam như thị trấn Châu Ổ ngày nay. Theo Đại Nam nhất thống chí, Quyển VIII, phần ghi chép về Quảng Ngãi có đoạn: “Sông Châu Tử ở cách lỵ sở huyện Bình Sơn chừng 10 trượng (khoảng 40 mét – TG), trước tên là sông Châu Ổ, nguồn ra từ Thanh Bồng…”. Như vậy có thể xác định đây chính là sông Châu Ổ – Trà Bồng; đến thời nhà Nguyễn thì đổi tên thành sông Châu Tử – nơi khởi nguồn cảm xúc cho bài thơ nổi tiếng “Nhớ con sông quê hương” của Tế Hanh.

Về phía Nam, một lưu vực sông khác có hai chi lưu; một chi lưu dài hơn phát nguyên từ dãy núi phía Tây (2-B), chảy xuôi về Đông rồi đổ ra cửa Tiểu hải môn (?). Các địa danh ven bờ như Bút Sơn Ấn, Lục Ngẫm quán, Trà Khúc quán… (phần màu xanh lục) cho ta cứ liệu để xác định đây là sông Trà Khúc. Tuy nhiên, ở đây tác giả có thể đã nhầm lẫn giữa sông Vệ và sông Trà Khúc, vì sông Trà Khúc đổ ra cửa Đại Nham hải môn, tức cửa Đại Cổ Lũy (ngày nay là Cửa Đại, có cầu Cổ Lũy); còn sông Vệ không đổ ra Đại Nham hải môn như ghi chú ở bức Bản đồ số 7 (Mộ Hoa huyện, Sông Vệ xã), mà đổ ra biển qua Cửa Lở, thuộc xã Tư Nghĩa/xã Long Phụng ngày nay. Cửa này nhỏ hơn nên có thể tạm gọi là Tiểu hải môn. Từ đó có thể khẳng định: từ cửa Sa Kỳ đến cửa Đại Cổ Lũy ngày nay hoàn toàn không còn vết tích nào của một “tiểu hải môn” như vậy.

Bản đồ số 7 (Mộ Hoa, Chương Nghĩa)

Một chi lưu ngắn hơn trong hệ thống sông này khởi nguyên trong nội địa ô 2-C, từ vài ngọn núi đơn lẻ với dòng chú các địa danh “Bút Sơn Ấn”, một bên là “Trà Khúc quán”; núi này “nhìn tám hướng đều thấy” (thử sơn bát phương giai kiến). Theo các nhà nghiên cứu ngày nay, lẽ ra phải viết là Bút Sơn (núi Thiên Bút) và Ấn Sơn (núi Thiên Ấn); núi Bút ở phía Nam sông Trà, còn núi Ấn đối diện phía Bắc. Đây là hai ngọn núi, cùng với dòng sông Trà Khúc, nổi tiếng mang nặng hồn non nước Quảng Ngãi quê tui; đã được xếp vào “Thập nhị cảnh” mà những vần thơ bay bổng của Nguyễn Cư Trinh đề tựa từ hơn vài trăm năm trước.
Tiếp theo về phía dưới, bên tả ngạn chi lưu phụ, tại ô 2-C là một ngọn núi cao với dòng chú: “Quảng Nghĩa phủ trị – Trà Khúc xã”. Như vậy, bản đồ này nhiều khả năng được phác họa vào giai đoạn phủ trị Quảng Ngãi còn ở phía Bắc sông Trà Khúc, thuộc đất Bình Sơn huyện, khoảng trung bộ Sơn Tịnh ngày nay, rồi được Đoan Quận công kế thừa, soạn lại.
Cũng tại ô 2-C, về phía dưới bên hữu ngạn sông, có chú: “Khố – Mỹ Khê thị” (Kho – chợ Mỹ Khê). Đây là kho Tư Cung trong các thư tịch cổ; ngày nay còn lại thôn Tư Cung, cạnh thôn Mỹ Lại/Tịnh Khê – nơi có Chứng tích Sơn Mỹ. Trong cuốn Hoàng Việt nhất thống dư địa chí ra đời sau đó chừng 30 năm, do Lê Quang Định biên soạn dâng lên vua vào năm Gia Long thứ 5 (1806), phần ghi chép về con sông này có đoạn: “…Đến sông Sa Kỳ, sông rộng 80 tầm (~140 mét), đây là một nhánh của sông Trà Khúc; càng đi ngược lên sông càng hẹp, đi xuống đến cầu Lam Điền thì sông mới rộng ra, đi qua kho cũ Tư Cung, bến đò Đồng Xuân, 4.539 tầm (>8 km) thì đến cửa biển”.
Ngày nay, chi lưu phụ này là một con sông nhỏ (ngòi) có hai nhánh chính bắt nguồn từ phía Tây: một nhánh chảy qua Tịnh Thiện, Tịnh Hòa (Chợ Mới), một nhánh từ Tịnh Châu, Tịnh Khê (cũ) về Đông, hợp lưu với hệ thống sông rạch ở Bờ Đắp (cầu Hòa Khê). Tại đây, các nguồn sông tiếp tục nhập với một nhánh sông nhỏ khác từ phía Bắc Châu Me chảy xuống, một nhánh từ Cửa Đại (Trà Khúc) sang, rồi cùng đổ ra cửa Sa Kỳ (Chợ Bờ). Tên các con sông này hiện không thấy ghi trên Google Maps.
Phía phải ô 4-D, nơi hợp lưu của bốn nhánh sông chảy ra Châu Ổ hải môn (cửa Sa Cần), có dòng chú: “sâu vừa – phù sa” (trung thâm – khoáng); bên phải ghi là Tùng Luật, bên trái là núi Nam Châm. Núi được vẽ như hình những cô gái đang ngồi xõa tóc dịu dàng bên bờ biển; không rõ nay mang tên gì, nhưng còn dấu tích là mũi Nam Châm thuộc xã Vạn Tường ngày nay.
Về mạn Nam núi Nam Châm có hai ngọn núi cao sát biển, nằm phía Tây cửa Sa Kỳ (2-D và 3-D), ghi là: “An Vĩnh thị” (chợ An Vĩnh), bên phải là “An Hải”; núi này có nhiều cây dầu (thử sơn đa hữu du). Đây cũng chính là quê hương của tác giả bài viết này.
Trong phần ghi chép về Quảng Ngãi, Đại Nam nhất thống chí chép: “Núi Mộ Nổ: phía Tây cửa biển Sa Kỳ, huyện Bình Sơn, tục gọi là Gò Nỏ. Xét Lê sử thì ‘vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành, chúa Chiêm Thành sai em là Thị Nại đem quân lẻn đến sát ngự dinh; nhà vua mật sai bọn Tả du kích tướng quân Lê Hy Cát đem chu sư ngầm vào cửa biển Sa Kỳ đắp thành lũy để chặn đường về của giặc. Người Chiêm không biết. Khi đại binh đến, giặc thấy ngự dinh liền tan vỡ, toan chạy về thành Trà Bàn; khi đi đến núi Mộ Nô, bỗng thấy toán quân Hy Cát chặn đường, bèn trèo núi chạy trốn’…”.
Như vậy, ngọn núi từng diễn ra trận mai phục đánh Chiêm dưới sự chỉ huy của tướng quân Lê Hy Cát theo lệnh vua Lê Thánh Tông vào đầu năm 1471 rất có thể là núi Răm (có Gò Nổ dưới chân núi), hoặc núi Thình Thình (phía Tây cửa Sa Kỳ). Đây là hai ngọn núi khá cao ở quê tôi: một chắn phía Đông (núi Răm), một ở phía Tây (Thình Thình), làng tôi nằm kẹt ở giữa. Đó cũng là những ngọn núi mà ngày còn bé chăn bò, chúng tôi từng nhìn về phía mặt trời và ao ước: chừng nào đủ lớn sẽ vượt qua nó để đến với thế giới bao la ngoài kia – như giấc mơ trong câu chuyện cổ tích mà cô giáo kể vào mỗi tiết học cuối tuần.
Về núi Thình Thình, có một chi tiết cũng rất thú vị. Đại Nam nhất thống chí (Tập 2) chép: “Núi Sâm Hội: ở cách huyện Bình Sơn 70 dặm về phía Đông Nam; trên núi có gò chòm đứng sững, người ta lên núi giậm chân hoặc đẵn cây đều nghe có tiếng ầm ầm như sấm, nên tục gọi là núi Thanh Thanh. Núi có trồng thổ sâm…”.
Với cách mô tả về đặc điểm địa chất, thổ nhưỡng, cây trồng; các địa danh có âm tương đồng; cũng như khoảng cách theo tứ chí từ huyện trị Bình Sơn là 70 dặm (khoảng 35 km) về hướng Đông Nam – khá trùng khớp với thực địa – có thể tạm định vị đây chính là núi Thình Thình (Thanh Thanh) trong các nguồn thư tịch cổ.
Phía Bắc sông Châu Ổ, trải rộng trên các ô 6, 7, 8 là hệ thống sông Trường Giang, sông Tam Kỳ ngày nay. Trên bản đồ, hệ thống này gồm bảy chi lưu chính đều đổ ra một cửa biển, có chú thích là “Hòa Hợp hải môn” (cửa biển Kỳ Hà/Núi Thành), rộng và sâu (thâm đại), có núi Bàn Duy, cát (sa) và các địa danh đâu đó còn sót lại đến tận ngày nay như Bến Ván, Quán Ốc, Đò Đưa… (còn nữa).

… (Xem tiếp)

Gửi phản hồi