Người “cầm dù theo xe vua”

Nhà Hậu Lê trong lịch sử VN xét trên bình diện nhà nước quân chủ chuyên chế là vương triều phong kiến VN duy nhất giành được ngai vàng từ tay ách thống trị ngoại xâm, lập nên chính quyền nhà nước trung ương tập quyền. Nhà Hậu Lê được lịch sử ghi nhận trải dài qua hơn 3 thế kỉ rưỡi, trong khoảng thời gian 361 năm trị vì (1428-1789), con cháu nhà Hậu Lê cũng đã tạm “nghỉ ngơi” mất 7 năm (1527 – 1533) dành cho một vương triều ngoại tộc khác xen vào và sau đó song song cùng tồn tại trong một thời gian dài, đó là Nhà Mạc (1527-1592, thời kỳ Thăng Long).

Dù (lọng) vua – ảnh minh họa

Nhà Mạc chính thức nhận mệnh trời vào ngày Canh Thân, tháng 6, niên hiệu Thống Nguyên thứ 6 (tức 15/6/1527 al), sau khi Cung Đế nhà Lê “thoái vị” trong trạng thái rã rời, tuyên chiếu: “…Nay nhường ngôi báu cho người có đức, để hợp mệnh trời…”, và người nhận không ai khác là một quân nhân, người đã từng cầm dù theo xe vua: Thái sư An Quốc vương Mạc Đăng Dung.

Nói về việc Nhà Mạc nhận được mệnh trời từ tay hậu duệ Nhà Lê sơ là công hay tội; Đăng Dung là kẻ thoán đạt, nghịch thần, ngụy triều, nhuận triều… hay một tất yếu lịch sử thì nói cả ngày ko hết chuyện, ko biết thiên hạ xưa nay đã tốn bao nhiêu giấy mực, bao nhiêu chiếc máy tính văn phòng đã ra bãi rác cùng với bao nhiêu cuộc hội thảo, tọa đàm, xê-mi-na về chủ đề Mạc Đăng Dungvương triều Mạc đã được tổ chức khắp nơi từ Thăng Long, Dương Kinh cho đến Cao Bằng, Thái Nguyên, Tuyên Quang v.v.. Trong khuôn khổ bài viết này, người viết ko có tham vọng bàn về những điều to tát ấy, chỉ xin góp nhặt đôi điều thú vị trong khúc cua lịch sử này mà người lạng lách, đánh võng chính là cựu công thần nhà Lê sơ – Mạc Đăng Dung, “tay lái lụa” đã thể hiện một cách hoàn hảo và về đích vô cùng ngoạn mục.

Xuất thân

Theo một số nguồn sử liệu, Mạc Thái Tổ sinh vào giờ Ngọ, ngày Nhâm Tý, tháng 11 năm Quý Mão (23/11/1483 al), tức niên hiệu Hồng Đức thứ 14 (triều Lê Thánh Tôn), thời kỳ phát triển đỉnh cao của chế độ quân chủ chuyên chế Việt Nam. Ông mất vào ngày 22 tháng 8 năm 1541, thọ 58 tuổi, sau khi đã “tạm lui” về giữ ngôi Thái Thượng hoàng 11 năm, lúc triều Mạc của ông trên đà hưng thịnh, dưới quyền cai trị của người cháu đích tôn, Mạc Hiến Tông (tức Mạc Phúc Hải).

Đăng Dung xuất thân trong một gia đình ngư dân nghèo chuyên nghề đánh cá ở một ngôi làng ven biển, nay thuộc xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, Tp Hải Phòng. Theo ghi chép của cụ Lê Quý Đôn trong cuốn Đại Việt thông sử thì “Mạc Đăng Dung quê ở làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương. Cụ Tổ 7 đời tên là Đĩnh Chi ở làng Đông Cao, huyện Bình Hà, tức làng Long Động, huyện Chí Linh bây giờ (thời cụ Đôn – TG), đậu Trang nguyên năm Giáp Thìn (1304), thời vua Anh Tông nhà Trần, làm quan đến chức Nhập nội Hành khiển Thượng thư môn hạ Tả bộc xạ, kiêm Trung thư lệnh, tri quân dân trọng sự. Rất thanh liêm thận trọng, tiếng tăm lẫy lừng cả 2 nước” (tức Ta và Tàu).

Như vậy Mạc Thái Tổ tuy có trích ngang sinh ra từ một gia đình thuộc đời thứ 6 là ngư dân, nhưng có cụ Tổ đời thứ nhất (cụ Mạc Đĩnh Chi), là Lưỡng quốc trạng nguyên, một đại công thần của nhà Trần, danh tiếng lẫy lừng khắp chốn, và mãi đến ngày nay chẳng mấy ai mà không biết đến tấm gương hiếu học điển hình của cụ Chi, với hình ảnh ngọn đèn đom đóm trong vỏ trứng gà…

Trong phần Liệt truyện Nghịch thần truyện, Mạc Đăng Dung, cụ Đôn chép: “Đĩnh Chi sinh ông Dao, quan Ty hình viên Đại phu. Ông Dao sinh 4 con trai Địch, Thuấn, Thúy và Viễn, người nào cũng có tài năng, sức lực…”. Tuy nhiên, đến những ngày tận cùng khốn đốn của vương triều Hồ (Đại Ngu) thì cả 4 ông đời thứ 3 này đều mang con cháu sớm đầu hàng giặc Minh, trong đó ông Thúy là người có “công” to nhất…với giặc Minh. Cũng theo các sử quan nhà Lê, ông này đã “bán đứng” đương kim Hoàng thượng Đại Ngu là Hồ Hán Thương (con cụ Ly) cho giặc Minh ở núi Cao Vọng, rồi sau đó cấu kết với Đặng Nguyên là Tri châu (châu Tam Đới) vẽ lại bản đồ và dẫn đường cho tướng Minh là Trương Phụ đánh úp thành Đông Kinh (Thăng Long) chỉ trong vài nốt nhạc. Nhà Minh thưởng công ông rất hậu, phong cho ông chức Giao Chỉ bố chánh Ty tham chánh; Sau đó ông dẫn quân Minh đi Lạng Sơn đánh quân phản loạn Nùng Phản Lịch, rồi bị trúng tên độc chết.

Sau khi cuộc kháng chiến chống Minh thắng lợi (1428), Thái Tổ cao Hoàng Đế (Lê Lợi) đã bình định được thiên hạ, cho quân lùng ráp những kẻ từng theo giúp giặc Minh trước đây, từng gây tội ác với bách tính Đại Việt để nghiêm trị ngụy quan. Do vậy, Mạc Tung (con ông Thúy) phải ẩn náu rồi dần di cư về làng Lang Khê, huyện Thanh Hà nhằm tránh tiếng thị phi và sự truy lùng gắt gao của triều đình. Đến đời Mạc Bình (con ông Tung) lại tiếp tục di cư về làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương (Hải Phòng ngày nay), sinh ra ông Mạc Hịch; ông Hịch lấy bà Đặng Thị Hiếu người cùng làng sinh ra Mạc Đăng Dung cùng hai người em: Mạc Đốc và Mạc Quyết, đều là trọng thần triều Lê sơ. Cũng theo cụ Đôn: “Tung sinh ra Bình…Bình sinh ra Hịch, 3 đời này không hiển đạt”, vậy mãi đến cháu đời thứ 7 của họ Mạc mới lại được hiển danh, hiển đạt rỡ ràng, đó là Thái tổ Mạc Đăng Dung.

Bước lên vũ đài chính trị

Mạc Thái Tổ – Ảnh minh họa

Theo các nguồn sử liệu xưa (chủ yếu từ các sử quan nhà Lê, Nguyễn) thì Đăng Dung gia nhập triều chính như một sự “tình cờ”, thời vua Lê Uy Mục cần tráng sỹ nên có tổ chức kỳ thi gọi là giao chật (thi đánh vật), chàng thanh niên làng biển Đăng Dung, ko biết đã nghe được từ manh mối nào mà rồi khăn gói quả mướp lên tận Đấu trường Giảng Võ ứng thí và trúng luôn Đô lực sỹ xuất thân, được tuyển thẳng vào đội quân Túc vệ, với nhiệm vụ chính trị đầu tiên là cầm dù theo xe vua (Đại Việt thông sử – LQĐ). Từ một chàng trai mình trần, chân đất, chuyên lặn ngụp với nghề tôm cá ở tận một làng biển xa xôi, Đăng Dung được nhà chức trách Đông Kinh soát xét, thẩm định một cách kỹ càng về tiêu chuẩn chính trị để trở thành một sỹ quan tiếp cận thuộc lực lượng cảnh vệ chính quy, tinh nhuệ của triều đình ông “vua quỷ” Lê Uy Mục; một vị vua mà lịch sử ghi nhận là ăn chơi trụy lạc và tàn ác vô cùng, người đã “góp công” lớn nhất đẩy ngai vàng nhà Lê sơ đến bên bờ vực thẳm. Với vị trí cầm dù (lọng) tuy không phải là danh phận cao sang gì ghê gớm trong hàng ngũ quân Túc vệ có đến hàng 5 trăm người, song với thành phần xuất thân từ tầng lớp bình dân, ko thuộc giới tinh hoa Thăng Long như Đăng Dung lại là một vinh dự lớn lao cho cả dòng họ Mạc và ngư dân nghèo làng biển Cổ Trai, xứ Kinh Môn xưa.

Thăng tiến       

 Xem qua các tư liệu lịch sử xưa nay cũng ko thấy ai nói từ rường mối nào mà Đăng Dung “đu bám” để nghênh ngang bước lên đài danh vọng cả, ông bước vào chính trường từ một kỳ thi thố tài năng võ thuật bình thường. Việc cầm dù theo xe vua là bước khởi nghiệp quan trọng, lấy “thân dù” làm thứ vũ khí đầu tiên, lợi hại để từng bước vươn lên giành lấy thanh Bảo kiếm uy phong trước ngai vàng của buổi hoàng hôn triều Lê sơ, và dường như đây cũng là quy luật. Khi tham gia trong quân ngũ ông đã sớm bộc lộ tài thao lược, từ lúc cầm dù với phẩm trật ngang Vị nhập lưu thư lại hoặc Bát cửu phẩm thư lại thì đến năm 25 tuổi (1508) ông đã là một Đô chỉ huy sứ oai phong của Thiên Vũ vệ, một trong 4 vệ quân cận vệ (Thiên Vũ, Thánh Uy, Cẩm Y và Kim Ngô) đặc biệt quan trọng của triều đình với trật Chánh tam phẩm võ ban. Theo sách Từ điển chức quan Việt Nam của Vũ Văn Ninh (NXB Hồng Đức, 2002) thì vệ Thiên Vũ và vệ Thánh Uy được thành lập sau, vào tháng 4 năm Canh Ngọ (1510), nhưng tầm quan trọng và chức vị cao hơn cả 2 vệ có trước đó là Cẩm Y vệ Kim Ngô vệ.  Đến tháng 4 năm Tân Mùi (1511), khi 29 tuổi, ông được triều đình ban tước (Vũ Xuyên bá), Trấn thủ xứ Sơn Nam, gia phong chức Phó tướng Tả đô đốc. Năm Quang Thiệu thứ 3 (1518) được ban tước Hầu (Vũ Xuyên hầu), Trấn thủ xứ Hải Dương. Năm 1519, sau khi được vua sai thống lĩnh các quân doanh đi đánh dẹp, phá được giặc Lê Tiếu ở Từ Liêm, sau đó chiêu hàng được quân phản nghịch do 2 dũng tướng Sơn Tây là Nguyễn Kính và Hoàng Duy Nhạc cầm đầu nổi loạn, khi trở về ông được ban tước Công (Minh Quận công). Như vậy sau chừng 8 năm (1511 đến 1519) ông đã kịp hoàn thành “bộ sưu tập” về phẩm tước: Công – Hầu – Bá trong ngũ tước (Công, Hầu, Bá, Tử, Nam) một cách xuất sắc, một lộ trình quan tước mà lắm vị trọng quan đương thời cũng đều phải ngước mắt nhìn!

Chưa hết, đến năm Quang Thiệu thứ 6 (1521) ông lại được gia tước Quốc công (Nhân Quốc công), Tiết chế 13 Đạo thủy lục quân, sau gia hàm Thái phó (Trật: Chánh nhất phẩm). Năm Quang Thiệu thứ 7 (1522), sau khi dẫn quân đi đánh dẹp, bắt được bọn Trần Thăng, phản loạn ở mạn Thái Nguyên, Lạng Sơn; tại Đông Ngàn ông 2 lần thân chinh vây bắt được tay nổi loạn Lê Bá Hiếu thì công tích của ông lẫy lừng khắp chốn, trăm trận trăm thắng, đánh đâu được đấy. Đến năm Thống Nguyên thứ 5 (1527) “tự phong” Thái sư An Quốc vương, gia hàm Cửu tích… Đến đây thì binh quyền triều đình đều đã nằm gọn trong tay ông, các chức quan trong ngoài đều do một tay ông sắp đặt, về nhân sự vẫn cứ “đúng quy trình”, đến Hoàng đế nhà Lê còn phải “e dè nể nang”, phái đám trọng thần thường xuyên lặn lội xuống tận bản doanh ở… Hải Phòng để mà “úy lạo” và ban thưởng hậu hĩnh cho Thái sư An Quốc vương để còn…kịp sống!

Trai “Đất cảng” thời loạn

Theo các nhà nghiên cứu lịch sử, 100 năm trị vì của nhà Lê sơ (1428 – 1527) có thể chia làm 3 giai đoạn khá rõ ràng, 30 năm đầu và 30 năm cuối là 2 thời kỳ khủng hoảng trầm trọng về triều chính. Giai đoạn 30 năm đầu khủng hoảng về nội bộ tôn thất, những cơn dư chấn triều chính gây ra rung lắc dữ dội mà điển hình là cuộc thanh trừng đẫm máu Lệ Chi viên, dẫn đến cái chết oan khuất của đại công thần Nguyễn Trãi. Giai đoạn giữa chừng 38 năm (thời Lê Thánh Tông 1460 – 1497) là thời kỳ hưng thịnh, phát triển đỉnh cao của chế độ phong kiến tập quyền Việt Nam. Mạc Đăng Dung đã được sinh ra và lớn lên vào giai đoạn này, thời kỳ quá yên bình và hưng thịnh của chế độ Hồng Đức. Tuy nhiên, lúc ông tham gia chính sự lại là thời kỳ triều chính bắt đầu lục đục, khủng hoảng về mặt thiết chế của 30 năm cuối triều Lê sơ (1497 – 1527), nhất là khi Túc Tông, một vị vua trẻ anh minh băng hà ở tuổi 17, chưa có con nối ngôi, là cơ hội để người anh khác mẹ Lê Uy Mục đóng thế, bắt đầu cho những cuộc “làm mưa, làm gió” ở Đông Kinh của hai ông “vua Quỷ” (Uy Mục 1505 – 1509) và “vua Heo” (Tương Dực 12/1509 – 1516). Tiếp đến là những năm đầu chấp chính của Chiêu tông Hoàng Đế, lúc triều đình đang hồi rối như canh hẹ thì đám đông tôn thất, đại công thần hảo hạng lại chia bè rẽ phái đánh nhau chí chóe, đúng là thượng bất chính thì hạ tắc loạn. Các cuộc thư hùng diễn ra như cơm bữa, nhà vua giảng hòa, khuyên can mãi ko xong, rồi cũng đành đu dây, khi nghiêng bên này, lúc ngả bên kia làm cho vở diễn quyền lực ở Đông Đô ngày càng thêm phần hấp dẫn và gay cấn. Bên ngoài thì “giặc cướp” tứ xứ nổi lên rần rần, chực chờ tiến về kinh sư đông như kẹt xe giờ cao điểm, trong khi Hoàng đế bất lực, ko đủ bản lĩnh, sáng suốt để lựa chọn một thế lực chính trị thực sự trung thành, đủ sức mạnh để bảo vệ kinh sư, giải nguy cho hoàng tộc. Đúng lúc nước sôi lửa bỏng đó thì chàng “trai đất cảng” Mạc Đăng Dung xuất hiện.

Một tác phẩm gốm sứ thời Mạc – Ảnh minh họa

Chuyện bắt đầu vào khoảng đầu năm Quang Thiệu thứ 2 (1517), hai thế lực chính trị đại diện hai dòng quý tộc thuộc nhóm công thần hạng nhất, đều là người xứ Thanh tại Đông Đô. Họ Trịnh quê Lôi Dương (Thọ Xuân ngày nay) và họ Nguyễn quê Tống Sơn (Hà Trung ngày nay), vì tranh quyền, đoạt vị ở kinh sư mà có hiềm khích nhau; ông Dụ (An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ) điều binh đánh ông Tuy (Vĩnh Hưng bá Trịnh Tuy), ông Tuy thua chạy về quê. Ông Chân (Thiết Sơn bá Trần Chân) là con nuôi của đại công thần Trịnh Duy Sản (chú ông Tuy), thấy nóng mặt kéo quân đánh ông Dụ, ông Dụ thất thủ, lại bỏ Đông Đô chạy về Thanh Hóa. Lúc này ở kinh sư chỉ còn lại mỗi ông Chân làm phụ chính triều đình. Thế lực ông Chân ngày càng mạnh, mạnh đến mức Hoàng đế Chiêu Tông phải lo sợ ông lấn át cả triều đình, lại nghe lời gièm pha của đám quạt mo cung đình, đã trót thò chân vào “tổ kiến lửa” mang tên Thiết Sơn bá Trần Chân. Hoàng đế vội vàng ban chiếu “khử” ngay Trần Chân và đám đồ đệ gồm 6 người mà ko có tên Mạc Đăng Dung. Trước đó, vì thấy thế lực ông Chân mạnh, Đăng Dung đã kịp cưới con gái ông Chân cho con trai mình (Mạc Đăng Doanh) để làm chỗ đi lại, manh nha tạo một affair chính trị khi cần. Tuy nhiên trước cuộc thanh trừng đẫm máu này, cho thấy Đăng Dung là người đủ độ “điềm tĩnh” và sáng suốt để ko bị vướng vào vòng xoáy quyền lực, rồi phải chịu chung số phận với đám đồng đảng của ông Chân.

Sau khi tướng Chân chết, đám đồ đệ tâm phúc của ông tức tối từ Sơn Tây kéo về đông như kiến cỏ, vây chặt kinh thành, đòi “ăn thua đủ” với Hoàng đế nhà Lê để trả thù cho chủ tướng của họ. Chiêu Tông cùng Hoàng gia và số ít trọng thần thân tín còn lại hốt hoảng, âm thầm khăn gói rời khỏi Hoàng thành, cùng bầu đàn thê tử kịp bơi qua sông Hồng sang Gia Lâm trốn giặc. Trước tình thế nguy cấp, nhìn trước ngó sau cũng chẳng còn thấy những khanh tướng, công hầu nào khả tín, Chiêu Tông đành cho người tìm đến Dương Kinh “triệu hồi” người cầm dù năm xưa, đưa quân về để phò vua cứu giá. Và rồi mầm “họa” của nhà Lê Sơ cũng bắt đầu từ đấy!   

Cũng phải nói cho công bằng rằng, Mạc Đăng Dung xuất thân từ tầng lớp bình dân, là một võ tướng trong thời kỳ binh đao loạn lạc, nhưng bằng tài thao lược, am tường binh pháp, ông đã hoạt động tích cực, tả xung, hữu đột, hóa giải được mọi sự an nguy của triều đình và nổi lên như một ngôi sao sáng nhất trong hàng trăm công thần, võ tướng của nhà Lê Sơ, mà phần đông là bạc nhược và vô tích sự. Qua tìm hiểu về ông thì chưa có một sách vở nào nói ông có học hành, qua trường lớp nào cả, vì vậy ông ko phải là môn đồ của Khổng giáo, khi ông dâng sớ hặc tội, xử trảm đại công thần Lê Quảng Độ (1518) vì tội bất trung, ông có phân trần về tam cương, ngũ thường…nhưng đó cũng chỉ là những giáo thuyêt chung chung mà ông học vẹt được qua giới tinh hoa Thăng Long, hoặc đó cũng chỉ là những “câu cửa miệng” chốn quan trường lúc bấy giờ mà thôi.  

Còn nhớ, cách đó chừng 18 năm, khi Nguyễn Văn Lang dẫn quân tam phủ, đưa Giản Tu công Lê Oánh (sau là Tương Dực Đế) từ Thanh Hóa về kinh đô để đảo chính quân sự, lật đổ Uy Mục (29/11/1509) thì dường như Đăng Dung ko hề nắm giữ bất cứ một vai trò gì, ko đua tranh “vấy máu ăn phần” trong cuộc tranh đoạt đẫm máu này. Năm Quang Thiệu thứ 3 (1518), khi được thăng tước Vũ Xuyên hầu, phụng mệnh triều đình ông ra Trấn thủ Hải Dương, kể từ đó gần như ông “bàng quan” với chính sự, tránh xa sự va đập ko cần thiết trước làn sóng chính trị đầy biến động ở kinh thành, ông chỉ chăm lo tập hợp hương binh, “chỉnh đốn đội ngũ, binh số ngày thêm nhiều” (Đại Việt thông sử – LQĐ). 

Theo quan điểm riêng của người viết thì Mạc Đăng Dung là người trung trực, ngay thẳng, ko đến mức trí trá để mua danh như nhận xét của cụ Đôn, với một góc nhìn mang định kiến chính trị của một sử thần ăn lộc nhà Lê. Ông làm quan, lúc đầu rất công minh, chính trực, ko có ý tưởng “nhòm ngó ngôi báu”, ít nhất cho đến khi thời thế thay đổi, “hoàn cảnh đẩy đưa”, lúc mà các vương thần, tôn thất nhà Lê phần đông là đám bạc nhược, bất tài, Hoàng đế ko còn xứng đáng đại diện được cho chính thể, ko đảm trách được mệnh Trời nữa thì ông mới nảy ra ý tưởng của kẻ nghịch thần, cũng là lúc “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” đến với ông. Về yếu tố nhân hòa, chính cụ Đôn trong Đại Việt thông sử cũng đã thừa nhận và ko dưới hai lần nhắc đến: lòng người đều hướng về Đăng Dung, điều này cũng được Đại Việt sử ký toàn thư (bản Chính Hòa, 1697), cũng do chính các sử thần nhà Lê biên soạn và từng ghi nhận. Như vậy rõ ràng sự kiện Mạc Đăng Dung phế bỏ nhà Lê, lập nên nhà Mạc như một lẽ tất yếu, hợp thời vì ông được thần dân cả kinh thành Thăng Long và rộng hơn là thần dân Bắc Hà ủng hộ, hướng về ông. Việc các sử thần phong kiến VN xem cuộc phế bỏ ngôi báu nhà Lê Sơ đầu thế kỉ XVI là một điều sĩ nhục, Đăng Dung là kẻ nghịch thần chưa hẳn là một lẽ công bằng của lịch sử; còn  xét về mức độ tàn khốc, bi thương trong các cuộc tranh đoạt vương quyền thì thử hỏi lịch sử đã có cuộc “chuyển giao” quyền lực nào là êm thấm, đã có cuộc “đổi ngôi” nào mà ko có máu chảy đầu rơi?!

Bồ Đề, tháng Tư 2024

Gửi phản hồi