
Phiên tòa bá đạo trong TRUYỆN KIỀU
Truyện Kiều có đến mấy vụ xử án, tuy nhiên có một phiên xét xử mà vị quan tòa đã xét xử và ra một phán quyết thật lạ lùng, quái đản và cũng ko thiếu phần hài hước. Đó là phiên tòa xét xử hai bị can: Thúy Kiều và Thúc Sinh (Thúc Kỳ Tâm) với tội danh: Kết hôn trái pháp luật, mà nguyên đơn ko ai khác chính là bố của Thúc Sinh, Thúc Ông.
Nôm na có thể tóm lược vụ án: Thúc Kỳ Tâm (Thúc Sinh), cậu học trò lêu lổng, ăn chơi đua đòi, là con một nhà buôn giàu có đến từ huyện Vô Tích (Giang Tô, TQ ngày nay), đã có vợ (Hoạn Thư) là con quan Lại bộ thiên quan; cậu theo cha đến huyện Lâm Truy để lập nghiệp, buôn bán. Gần cửa hàng đang ăn nên làm ra của Thúc gia là phố đèn đỏ, nơi đó có cái lầu xanh hoành tráng, ở đó có cô cave xinh đẹp tuyệt trần, vừa thơ hay vừa đàn giỏi, tên là Vương Thúy Kiều. Đây là cô đào “cưng”, là “của hời” để câu khách của mụ chủ nhà chứa, Tú Bà. Thiếu gia họ Thúc vốn con “nhà chỉ có mỗi tiền”, hàng ngày la cà đến quán để tiêu sầu khiển hứng với cô kĩ nữ Thúy Kiều bằng phong thái hào hoa, phong nhã của một tay chơi thứ thiệt: “…Trăm nghìn đổ một trận cười như không”.
Một ngày nọ, chàng Thúc nhà ta chơi lớn, mang Kiều đi giấu, trước khi “Chiến hoa sắp sẵn hai bài” ép Tú Bà phải chấp nhận để chàng chuộc Kiều ra khỏi lầu xanh, đưa nàng về nhà làm vợ (tranh thủ lúc Thúc Ông đi vắng, về quê). Sau nửa năm về thăm nhà tận Vô Tích trở lại Lâm Truy, biết được sự tình về cậu quý tử, Thúc Ông tỏ ra vô cùng tức giận, ông tìm cách khuyên can, giải bày mãi mà cậu ấm không nghe, quyết lấy nàng Kiều về làm vợ bé. Thế là Thúc Ông quyết định đâm đơn kiện đến Phủ đường.
Thấy lời sắt đá tri tri
Sốt gan, ông mới lạy quỳ cửa công
Phiên tòa bắt đầu.
Mở đầu phiên tòa, cứ tưởng là một vụ xét xử dân sự bình thường nhưng về sau lại rõ ràng là một vụ án hình sự (không biết vị quan phủ này có lạm dụng hoạt động tố tụng, để hình sự hóa vấn đề dân sự không?!). Theo trình tự, thủ tục, căn cứ vào luật pháp Đại Minh, niên hiệu Gia Tĩnh, phủ đường xứ Lâm Truy tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử công khai, gửi trát triệu tập các bên bị, bên nguyên và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan (nhưng vắng mặt chủ nhà chứa – Tú Bà, GĐ nhà hàng, nơi quản lý nhân viên Thúy Kiều): “Phủ đường sai lá phiếu hồng thôi tra”…
Ở đây có vẻ như ko ổn, có gì đó sai sai! Theo cụ Lê Văn Hòe (Tác giả cuốn Truyện Kiều chú giải – 1953) thì vụ việc đang xảy ra ở huyện Lâm Truy (Sơn Đông ngày nay), sao cụ Nguyễn Du lại viết là phủ đường. Phủ đường là công đường cấp cao hơn huyện đường, nơi quan phủ làm việc, nên ở đây gọi huyện đường mới phải và thông thường vụ này thuộc thẩm quyền xét xử của Tri huyện Lâm Truy (Hay huyện lệnh Lâm Truy) chứ!? Thôi khó quá, bỏ đi!
Quay lại chuyện xét xử bá đạo của ông quan phủ.
Vào cuộc, ông quan phủ “mặt sắt đen sì” bắt đầu xét xử theo một cách rất riêng, ko đọc cáo trạng, ko cần thẩm vấn, xét hỏi bị can, nhân chứng chi chi cả. Ông bắt đầu bằng việc chửi đổng, chửi thẳng mặt tay học trò hư đốn họ Thúc “dại nết chơi bời”, chửi cô cave cao cấp Thúy Kiều “là người đong đưa”, rồi quay sang dạy bảo lão gia Thúc Ông (Thúc Chính) mà ko cần trình tự, thủ tục gì sất. Theo các nhà nghiên cứu Kiều thì tính cách viên quan phủ trong Truyện Kiều đã khác xa với tính cách của “nguyên bản” viên quan Tàu trong “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân, có chăng ở đây cụ Nguyễn bóng gió trình độ làng nhàng, a ma tơ của đám quan lại Đại Nam đương thời, chứ vị quan tòa của Thanh Tâm Tài Nhân xem ra rất… pờ rồ. Ông quan tòa bên Tàu có chiến thuật xét hỏi rõ ràng, có nhận định, đánh giá sự việc thấu đáo, khoa học; ông bắt đầu bằng việc thẩm vấn bên nguyên (Thúc Chính) trước, với 3 câu hỏi chính và một câu hỏi phụ, mục đích là làm rõ một vấn đề cốt lõi của vụ án: Tại sao ông kiện? (Vì theo vị quan này thì nhân thân của Thúc sinh, tuy là học trò nhưng vẫn đủ điều kiện để lấy vợ lẽ theo quy định của luật Đại Minh hiện hành).
Thứ hai, sau khi chửi đổng một hồi, quan phủ luận tội luôn:
Tuồng gì hoa thải, hương thừa
Mượn màu son phấn đánh lừa con đen
Là ý ông nói Kiều. Lúc này quan tòa tách luôn bị can ra làm 2 loại: Thúc Sinh đang là bị đơn/bị can chuyển thành bị hại; còn Thúy Kiều là bị can thành bị cáo, người trực tiếp có hành vi nguy hiểm cho xã hội: “mượn màu son phấn” để ”đánh lừa con đen”. Con đen ở đây chỉ Thúc Sinh, con đen tức là dân đen, dân ngu(!). Kỳ thực, một tay nho sinh phong lưu con nhà giàu, được học hành tử tế, chữ nghĩa đầy mình, mai mốt có thể ra ứng thí rồi đỗ đạt làm quan, lại có thể bị một nàng cave phố huyện đánh lừa được sao (?)
Thứ ba, ông ra phán quyết ngay nhưng cho bị cáo được quyền chọn:
Phép công chiếu án luận vào
Có hai đường ấy muốn sao mặc mình;
Một là: cứ pháp gia hình
Hai là lại cứ lầu xanh phó về

Ở đây quan phủ tỏ ra là người rộng lượng, cho Kiều được chọn một trong hai:
a, Chịu hình phạt (nhưng chịu hình phạt xong Kiều có được lấy Thúc không? Ko ai biết!).
b, Trả về lầu xanh (Thúc Ông thắng kiện, Kiều ko bị hình phạt).
Trong cuốn Truyện Kiều chú giải, cụ Lê Văn Hòe cũng rất băn khoăn: “Luật pháp đời Minh có khoan hồng như thế? Hay đó chỉ là cách xử đoản (xét xử) riêng, quan đặt ra để xét thử tư cách Thúy Kiều? Nếu nàng quả là con ‘người đong đưa’ thì tất nàng sợ tội và tất xin về lầu xanh”. Tuy nhiên, ở đây rõ ràng phương pháp xét xử ngẫu hứng của vị quan phủ có lẽ phần nhiều do tính cách của ông này mà cụ Nguyễn Du đã chủ tâm nhào nặn nên nhân vật; minh chứng là sự phát triển ngẩu hứng đó được đẩy lên theo từng cấp độ, càng lúc càng cao cho đến khi đạt đến cao trào khi phiên tòa kết thúc (xem phần sau).
Thứ tư, vị quan phủ biến phiên tòa thành một buổi bình thơ, và cuối cùng ông ra một phán quyết đầy bất ngờ, rất ngẫu hứng và hoàn toàn có lợi cho bị đơn vì… thơ hay quá! Sau khi nghe Thúc Sinh khóc than, giải bày tỉ tê, biết được Kiều là một người giỏi văn thơ, gương “mặt sắt đen sì” đầy quyền uy kia hình như đã mềm ra và đã biết cười:
Cười rằng: “Đã thế thì nên
Mộc già hãy thử một thiên trình nghề”
Sau khi ra đề thơ cho Kiều, lập tức nàng đã họa xong ngay bài thơ “Chiếc gông” (Mộc già) đưa cho ông đọc, thì gương “mặt sắt” ấy chẳng những biết cười lại còn biết khen, mà khen Kiều lên tít tận trời mây.
Khen rằng: “Giá lợp (đáng) thịnh Đường
Tài này, sắc ấy nghìn vàng chưa cân”
Trời đất, Kiều ngày trước ở tuổi cập kê “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh” mà chỉ được “ngã giá vàng ngoài bốn trăm” (lạng), nay ông quan phủ hứng chí còn phá giá nâng lên nghìn vàng lại còn “chưa cân” xứng, tức cao hơn nữa. Trong một số bản dịch Kiều lưu hành hiện tại đều ghi: “Giá đáng thịnh Đường” thay vì “Giá lợp thịnh Đường”, nhưng theo một số bản Kiều cũ ghi: “Giá lợp thịnh Đường”. Các cụ ta giải thích: chữ “lợp” tức là đắp lên, trùm lên trên, tức là cao hơn cả “thịnh Đường”. Khen thế mới đáng lời quan khen, đúng là “miệng quan, trôn trẻ”! Như vậy so ra chữ “đáng” thấp hơn, chỉ có nghĩa tương đương, tương xứng hoặc ngang bằng với thơ của thời “thịnh Đường” mà thôi, ko oách bằng chữ “lợp”.
Lịch sử về thơ phú Trung Hoa có lẽ đời Đường (618-907) được xem là một thời kỳ hưng thịnh, nở rộ bậc nhất, nên người ta gọi: thơ Đường, Đường thi hay thơ Đường luật…ít khi gọi Thanh thi, Minh thi, Nguyên thi, Tống thi… Trong Đường thi chia ra 3 hoặc 4 giai đoạn nhỏ (là sơ Đường, thịnh Đường, trung Đường và vãn Đường), trong đó Thịnh Đường (714-766) là giai đoạn đỉnh cao của thơ Đường với nhiều đại diện kiệt xuất, trong đó có hai vị Tiên thi và Thánh thi của Trung Hoa là Lý Bạch và Đỗ Phủ. Ấy vậy mà, trong một buổi xử án thường ngày ở huyện vào “năm Gia Tĩnh triều Minh” (1521 – 1567), một vị quan phủ cao hứng dám khen một cô kỹ nữ đang bị hầu tòa, làm thơ còn hay hơn cả Lý Bạch, Đỗ Phủ… (!) Thế mới đáng là tay quan bay bổng, bốc phét ko ai bằng.
Cuối cùng, ông ra phán quyết lạ lùng, có 102.
Sau khi nghe Kiều vịnh bài “Chiếc gông” xong, vị quan phủ khen tung nóc nhà rồi bất chợt quay 1800, nhận ra đôi tình nhân Kiều – Thúc thật đẹp đôi, vừa lứa, họ xứng đáng được hưởng hạnh phúc bên nhau, ko nên chia cách họ. Ông khen:
Thật là tài tử, giai nhân
Châu, Trần còn có Châu, Trần nào hơn
Ở đây vị quan phủ thật rõ khéo, khen là khen đôi trai tài, gái sắc, nhưng thực ra là để sửa sai muốn chuyển đổi bản chất nội dung phán quyết của ông trước đó và để nói với lão gia họ Thúc (bên nguyên đơn) rằng: Chúng nó không phạm luật, chúng nó xứng đôi; rồi khen, họ Vương – họ Thúc mà làm thông gia với nhau là môn đăng hộ đối, là sánh ngang với họ Châu, họ Trần ở đất Phong Châu ngày xưa đời đời làm thông gia với nhau vậy. Thôi đừng kiện tụng nữa, đừng rước oán, cưu hờn, hãy coi chúng là dâu con trong nhà, về nhà mà bảo nhau…
Thế rồi điều bất ngờ lớn nhất trong phiên tòa cũng đến, giống như một sự bùng nổ của hành động ngẫu hứng đến cao trào của vị quan tòa non về hành pháp, nặng tính nghệ sỹ này. Ông truyền lệnh cho bọn sai nha trong phủ đường đi sắm ngay lễ lạc, cỗ bàn, còn ông làm chủ hôn tổ chức lễ cưới (ngay và luôn) trong đêm cho đôi uyên ương “tài tử, giai nhân” Kiều – Thúc, mà lúc chiều còn là phạm nhân phải chịu hình phạt đến “Đào hoen quện má, liễu tan tác mày…”
Kíp truyền sắm sửa lễ công
Kiệu hoa cất gió, đuốc hồng điểm sao
Bày hàng cổ xúy xôn xao
Song song đưa tới trướng đào sánh đôi…
Wow, ngạc nhiên chưa?! Một vụ xử án thật li kỳ và một đám cưới cũng không kém phần li kì và hấp dẫn đến ngỡ ngàng. Lễ cưới ở đây được quan phủ sai người sắm sửa là “lễ công”, lễ được mua sắm bằng tiền của công; đám cưới cũng có đèn hoa, kiệu cưới, trướng đào… và người tham gia đưa dâu, phường nhã nhạc (cổ xúy), đội phục dịch, phu khiêng kiệu… rất đông, và cũng là của công đường. Không khí đó thể hiện một lễ cưới có quy mô hoành tráng, tưng bừng: “kiệu hoa cất gió, đuốc hồng điểm sao”.
Đúng là một phiên tòa và một lễ cưới có 102, quan tòa tự nhiên thành chủ hôn, còn 2 kẻ bị kiện là “tòng phạm” về quan hệ hôn nhân lại được tổ chức hôn lễ tại tòa theo phán quyết. Theo nghiên cứu của các cụ cho rằng vị quan tòa này ko vượt thẩm quyền, vì chế độ phong kiến, vua là Thiên tử (con trời) thay trời hành đạo, còn quan huyện, phủ là thay mặt vua chăn dắt con dân trong lãnh địa mà mình được ủy trị; quan là cha, là mẹ của dân (quan phụ mẫu) nên việc quan phủ truyền sắm sanh và tổ chức lễ cưới cho Thúc – Kiều trong trường hợp này (bằng nhân tài, vật lực của công) là điều có thể và chấp nhận được. Một viên quan tòa với “mặt sắt đen sì”, xuất hiện với vẻ đằng đằng sát khí, là hiện thân đầy đủ của thiết chế hình pháp phong kiến hà khắc, lại có cách hành xử ngẫu hứng khác người và một phán quyết ko giống ai nhưng xem ra vẫn mang đầy tính nhân văn đó chứ, hỏi rằng cách làm quan như thế xưa nay thế gian được mấy người(?)
Tóm lại, cuộc hôn lễ chốn công đường đình đám này xưa nay không biết đã tốn bao nhiêu giấy mực của lớp lớp các văn nhân, sỹ tử Việt, có kẻ khen, người chê, có kẻ cười, người ngẫm, thậm chí có người còn “tỏ ra bức xúc”, ko đồng tình. Nghe đâu thuở sinh thời, cụ Tản Đà (Nguyễn Khắc Hiếu) cũng cực lực phản đối, ko đồng tình, cụ đòi bỏ ko dịch 4 câu thơ Kiều nói trên vì cho rằng cụ Nguyễn Du “truyền nhảm”! Tuy nhiên, với thiển ý của người viết bài này, Đại thi hào Nguyễn Du đã có thâm ý sâu xa chứ ko “vô duyên” đến vậy, cụ hoàn toàn ko vô tình và lại càng ko truyền nhảm. Về nội dung này, người viết xin sẽ hầu chuyện ở một bài viết sau. Hết./.
Thăng Long, ngày Đông chí 2023






































Một suy nghĩ 1 thoughts on “Chuyện phiếm”