BA ĐỒNG MỘT MỚ TRẦU CAY

Ba đồng một mớ trầu cay/Sao anh ko hỏi những ngày còn ko

Nghe câu ca dao trên chẳng mấy ai mà ko biết, ấy là lời nỉ non, tình tứ của một cô gái vừa mới sang sông, replay cho một chàng trai xưa cũ. Giọng cô gái thoáng đợm một chút buồn buồn, một cái gì đó tiêng tiếc, một chút dỗi hờn và một nỗi lòng thổn thức. Ai bảo ngày ấy cứ mải chơi, chẳng chịu ngó ngàng gì, bây giờ tự nhiên nhắn tin Zalo nói lời yêu đương để cho trái tim nàng thổn thức: “Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay!”

Ừ thì…

Ba đồng một mớ trầu cay,

Sao anh ko hỏi những ngày còn ko?

Bây giời em đã có chồng,

Như chim vào lồng, như cá cắn câu.

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,

Chim vào lồng biết thuở nào ra.

Bài ca dao có tứ thơ thât đẹp, lãng mạn, tình tứ và da diết quá!

Ấy thế mà gần đây, có giả thuyết lại nói rằng: Bài thơ trên ko phải ca dao, mà có tác giả hẳn hoi, nội dung chủ đề cũng ko phải vấn đề TÌNH YÊU đôi lứa, mà tác giả khéo léo sử dụng biện pháp tu từ của thơ ca để gửi đi một thông điệp ngoại giao quan trọng và bí mật. Đó là lời khước từ khôn khéo mà thẳng đuột đối với một âm mưu CHÍNH TRỊ mà trước đó đã được dàn dựng và gửi đi từ phủ chúa Trịnh (Đàng Ngoài), có thâm ý đánh tiếng mời gọi, phỉnh dụ, móc nối đến đích danh vị quân sư lỗi lạc, tài ba, từng được mệnh danh là “Khổng Minh” Việt Nam của chúa Nguyến (Đàng Trong), người mà triều đình Lê – Trịnh trước đây đã vô tình để “sổng” mất vào tay chúa Nguyễn, sau kỳ thi Hương khoa Quý Tỵ (1593) ở hành cung Vạn Lại (Thanh Hóa). Đó ko ai khác là Đệ nhất khai quốc công thần nhà Nguyễn: Tham tán Đào Duy Từ. Thế có chết ko nà!

Ảnh minh họa

Các cụ nhà ta xưa hay thiệt, nói cứ như hát, mà hát thì cứ như nói. Đoạn sô lô replay của cụ Từ (Đào Duy Từ) ai cũng bảo là hay, nhưng bài thơ có ý “gạ tình” thả thính trước đó được cho là của cụ Tráng (chúa Trịnh Tráng) cũng ko hề kém cạnh:

Trèo lên cây bưởi hái hoa,

Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân.

Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc

Em lấy chồng rồi, anh tiếc lắm thay!

Đúng là tiếc thật. Lẽ ra chúng ta đã có thể ngồi lại với nhau, cùng chung tay gây dựng nên “cơ đồ” sau bao nhiêu năm cất công “trèo lên”, “bước xuống” để tìm nhau.  Dù “nụ” và “hoa” kia có thơm, có đẹp đến dường nào thì cũng là sự kết tinh, sự tích tụ tinh túy từ mảnh đất này mà nên, sao bây giờ người lại phủ phàng đành lòng rẽ bước sang sông…?

Mà ừ nhỉ, cứ xét theo ý tứ bài thơ nói đó là một thông điệp ngoại giao hay đúng hơn là một “điệp vụ” mang ý đồ chính trị nhằm lôi kéo, phân hóa hàng ngũ đối phương, trong cuộc chiến tranh “Con cô – con cậu” (khai mào1627) cũng thật là có lý. Trèo lên cây bưởi hái hoa/Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân. Ở đây, trong khu vườn ấy có sự phối trộn hài hòa, huyền ảo sắc màu giữa các loài hoa, có màu trắng tinh khiết và ngát hương thơm của hoa bưởi; màu tím huyền ảo, thủy chung của hoa cà và màu xanh biếc là tín hiệu hứa hẹn mùa xuân tràn đầy niềm hy vọng của nụ tầm xuân. Giá như được tưởng tượng thêm một chút, “chính trị hóa” vấn đề lên một chút, ta có thể mạo muội suy ra, Cụ Tráng muốn nói với cụ Từ rằng: “Ngươi khá lắm, dám bỏ trốn vào Thuận Hóa theo phường phản nghịch, ly khai; bây giờ danh tiếng của ngươi đã lan tỏa khắp vùng, hãy là người biết điều mà tận trung quay đầu về với chủ cũ, ta hứa với triều đình sẽ ban thưởng cho ngươi phẩm tước cao sang và bổng lộc hơn người” hihi…

Đó là sự đoán mò, lời chém gió của người viết, còn sự thật thế nào thì “mặc đời sau thiên hạ luận bàn”.

Sử sách chép rằng: Đào Duy Từ (1572-1634) sinh ra tại làng Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, nay thuộc phường Nguyên Bình, thi xã lọc dầu Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, trong một gia đình kép hát. Thân phụ ông là Đào Tá Hán, một quản giáp xướng ca dưới triều Lê Anh Tông (Lê Duy Bang), ông mất sớm khi Duy Từ vừa mới lên 5, thân mẫu là bà Vũ Kim Chi, người đã nhọc nhằn vì con, quyết chí cùng con theo đuổi đến cùng con đường khoa bảng. Đào Duy Từ từ nhỏ đã là đứa trẻ thông minh, học giỏi, năm Quý Tỵ (1593), ông dự kỳ thi Hương và đỗ Á nguyên dưới cái tên Vũ Duy Từ (họ mẹ). Việc đổi họ để lách luật Nhà Lê đi thi, giấu đi cái thành phần xuất thân “xướng ca vô loài” bị bại lộ, ông bị Bộ Lễ tước bỏ toàn bộ ngôi vị Á nguyên, lột áo mũ và tống giam (có thuyết bảo đuổi về quê, có người bảo sung vào lính…). Khi hay được tin dữ, mẹ ông tại quê nhà vì quá đau buồn, phẩn uất mà thắt cổ tự vẫn.

32 năm sau, trước khi chiến cuộc Trịnh – Nguyễn chính thức diễn ra (3/1627), ông bỏ trốn vào Thuận Hóa. Là người học rộng, am hiểu quan chế, ông tự biết mình phải làm gì để tiếp cận phủ chúa ở Phú Xuân; trên đường thiên lý vào Nam ông có ghé lại Thừa Thiên một thời gian ngắn, rồi đến phủ Hoài Nhân (nay thuộc thi xã Hoài Nhơn/Bình Định) tìm đến chăn trâu cho nhà một phú hộ có mối quan hệ thân thiết với gia đình quan Khám lý Trần Đức Hòa. Đây là cách tiếp cận hiệu quả và nhanh nhất có thể, vì chế độ phong kiến VN thường thì quan có hàm Tam phẩm trở lên mới được quyền (và bắt buộc) tiến cử 1 người hiền tài trong năm. Biết vậy nên Đào Duy Từ thông qua bài “Ngọa Long cương” để Trần Đức Hòa tiến cử và được ra mắt chúa Sãi Nguyễn Phước Nguyên chỉ trong vòng vỏn vẹn 2 năm, sau khi rời đất Bắc.

Về sự nghiệp, công danh của Đệ nhất quân sư Đàng Trong thì hậu thế có lẽ khỏi phải bàn. Bài “Ngọa Long cương” xưa ông từng hát khi chăn trâu, ví mình với mưu sỹ tài ba thời Tam quốc bên Tàu là Gia Cát Lượng giờ đây đã thành sự thật. Có thể mọi sự so sánh đều khập khiểng, nhưng xét ở mặt nào đó “Khổng Minh” Việt có khi còn …nhỉnh hơn Khổng Minh Tàu ấy chứ! Khổng Minh Tàu tính từ lúc rời lều cỏ Long Trung về với Lưu Bị, phò rập đến 27 năm (208-234), chính quyền nhà Thục tuy có mạnh lên, nhưng 5 lần thân chinh tấn công Trung Nguyên, 1 lần tấn công Kinh Châu đều ko thành công, nếu ko cho là thất bại. Còn cụ Từ nhà ta phò chúa Sãi chỉ vỏn vẹn có 8 năm (1627-1634) mà đã giúp chúa Nguyễn làm nên một diện mạo mới cho xã hội Thuận Hóa ngày càng hưng thịnh; cương thổ được mở rộng thêm về phương Nam; quân sự mạnh lên từng ngày, xây dựng các công trình phòng thủ vững chắc, tuyển mộ hiền tài, tu luyện tinh binh để có thể chống chịu đến 7 cuộc tấn công của đại quân triều đình Lê – Trịnh. Ngay cái buổi đầu le te theo chân Trần Đức Hòa vào chầu ở phủ chúa, Nguyễn Phước Nguyên phải thốt lên rằng: Trời đã mang ông đến cho ta vậy, Đào Duy Từ quả là Khổng Minh thời nay…

Theo ghi chép trong các sử liệu của Nhà Nguyến, lúc bấy giờ triều đình Lê – Trịnh một mặt sử dụng sức mạnh quân sự nhằm để răn đe, buộc chúa Nguyễn phải quy phục, mặt khác dùng giải pháp chính trị, ngoại giao nhằm triệt hạ tư tưởng ly khai. Năm 1630, sau những cuộc tấn công tổng lực từ phương Bắc, chúa Nguyễn chủ thuyết tuyệt giao với triều đình Đông Đô, việc triều cống vẫn có thể diễn ra nhưng sẽ  từ chối mọi sắc phong từ đó. Vì thế mới có chuyện chúa Nguyễn sai người đi cống phương vật cho vua Lê bằng “Chiếc mâm đồng 2 đáy”, giấu bài thơ “Dư bất thụ sắc” (ta ko nhận sắc) do Đào Duy Từ hiến kế mà ngày nay hậu thế thổi lên thành những giai thoại sặc mùi cải lương.

Cũng trong vòng 8 năm làm quân sư ấy, thiên hạ cũng cho rằng, cụ Từ cũng đã phải tiếp nhận rất nhiều vật phẩm quý giá cùng thư từ “đi đêm” đến từ Đông Đô, với lời lẽ chào mời, mua chuộc từ triều đình Lê – Trịnh, hay đúng hơn là từ cụ Tráng, nhưng cụ Từ đã khẳng khái khước từ.

Nói như vậy mới thấy các cụ ta xưa văn vẻ và hoa hòe lắm, hoa hòe đến cả những lĩnh vực ko mấy hoa hòe. Nhưng qua đó, cũng phần nào ta thấy được tính phức tạp trong bối cảnh lịch sử Đại Việt ở thế kỷ 17, một thế kỉ binh đao, loạn lạc triền miên mà có thể ví đùa rằng, đó là thời “Tam quốc VN” (!) Vì lúc này, Đại Việt cũng hình thành thế chân vạc kéo dài hàng trăm năm, dài hơn cả thời Tam quốc của Tàu (50 năm): Nhà Mạc (Cao Bằng) – Nhà Trịnh/Lê (phần lớn đất cũ Nhà Lê sơ) – chúa Nguyễn (Thuận Hóa). Điều kì lạ là, nạn binh đao tàn khốc, thế gian này chắc chẳng mấy ai cam tâm bấm “likes” cho nó, nhưng chính trong khói lửa chiến tranh thường xuất hiện những bậc kỳ tài, những danh nhân hào kiệt, những anh hùng xuất chúng khó ai bì kịp. Ví như ở Đại Việt ta, 3 thể kỉ (16, 17,18) nội chiến triền miên, đau thương tang tóc, nhưng bù lại là sự xuất hiện những Trạng Trình, Lê Quý Đôn, Nguyễn Du và hàng trăm anh hùng hào kiệt khác, trong đó có đại công thần nhà Nguyễn: Đào Duy Từ, người đã từng làm “xiêu lòng” Thanh Đô vương Trịnh Tráng, để ông phải “tơ vương” mà viết thơ rằng:

Em lấy chồng rồi, anh tiếc lắm thay….!  

                                                       Hà thành

Tháng 10 năm Covid thư 2

Một suy nghĩ 2 thoughts on “BA ĐỒNG MỘT MỚ TRẦU CAY”

Gửi phản hồi