Trung ngôn nghịch nhĩ

Ảnh minh họa

Năm 207/TCN, lúc cuộc tranh đoạt ngôi Thiên tử Trung Hoa giữa hai thế lực Lưu Bang – Hạng Vũ chỉ mới manh nha, nhì nhằng chưa vào giai đoạn quyết liệt, Lưu – Hạng còn phải nấp dưới danh nghĩa phụng mệnh vị vua bù nhìn Sở Hoài vương do Hạng Lương (chú Hạng Vũ) lập nên. Theo giao ước của Sở vương, cánh quân của Lưu Bang hưởng được cái lợi thế an nhàn mà xốc thẳng về kinh đô Hàm Dương bắt Tử Anh và triều thần “Tam Thế Hoàng đế” tự dâng nộp ấn tỷ đầu hàng. Trong khi đó đại quân của Tây Sở bá vương Hạng Vũ còn phải nhọc nhằn đưa quân lên phương Bắc thảo phạt cứu nước Triệu, quyết chiến với đại quân Tần do chiến tướng Chương Hàm chỉ huy ở trận đại chiến Cự Lộc.

Vốn xuất thân từ một gã nhà quê, sau gần ba năm xông pha trận mạc, thịt nát xương tan nơi sa trường, nếm đủ thứ mùi đói rét, đắng cay, nương thân nơi thâm sơn cùng cốc, nay được kéo đại quân vào kinh đô trong khí thế bừng bừng, Lưu Bang choáng ngợp, mắt tròn, mắt dẹt trước vẻ đẹp nguy nga, tráng lệ của cung thất hoàng đế nhà Tần, với bao nhiêu lầu son gác tía và hàng ngàn cung tần mỹ nữ hầu hạ trước mỗi bước đi. Trước sự mê hoặc của Hàm Dương vị chủ soái họ Lưu quyết định ở lại muốn làm chủ đất Trung Nguyên để mà tận hưởng sự giàu sang phú quý và tửu sắc nơi đây. Ông dường như đã quên mất cái đại cục là tiếp tục bình thiên hạ để tranh đoạt ngôi Thiên tử với Hạng Vũ, một đối thủ chính trị trực tiếp đáng gờm, có tiềm lực quân sự mạnh hơn Lưu Bang gấp nhiều lần. Trước tình cảnh éo le và nguy khốn như vậy, Phàn Khoái, một võ tướng, người đồng hương huyện Bái hết mực trung thành, từng vào sống ra chết với Lưu Bang từ ngày mới theo Trần Thắng khởi nghĩa chống Tần, đã khuyên can vị chủ soái ham mê tửu sắc của mình một cách chân thành. Rằng, muốn nên đại nghiệp thì hãy bỏ thói xa hoa, hưởng lạc mà giữ nguyên hiện trạng, niêm phong cung thất, ngọc ngà châu báu mà lui về Bái Thượng đóng quân, không để Hạng Vũ  nghi ngờ Lưu Bang muốn nẫng tay trên mà gây họa cho đại sự sau này. Mọi sự can gián ruột gan của đồ đệ Phàn Khoái đều bị Lưu Bang bỏ ngoài tai và còn tỏ ra giận dữ cho rằng đó là lời lẽ của một tay võ biền, một kẻ phàm phu tục tử, không đáng nghe và vẫn cứ ở lại trong cung mà hưởng lạc, ngủ quên trong chiến thắng mà không biết rằng Phạm Tăng, một mưu sỹ của Hạng Vũ đang bày mưu triệt hạ ông để bớt đi một đối thủ tiềm tàng. Thế rồi chuyện cũng đã đến tai Trương Lương, vị quân sư tài danh thuộc hàng “Hán sơ tam kiệt”, người đã từng theo sát giúp Lưu Bang bao phen vượt qua nguy khốn và có công lớn trong gây dựng nên đại cơ nghiệp nhà Hán sau này. Theo cuốn Sử ký Tư Mã Thiên (Phần Thế gia – Lưu hầu), Trương Lương can gián Lưu Bang rằng:

– Tần vô đạo, nên Bái công (Lưu Bang) mới được vào đây. Muốn vì thiên hạ diệt trừ tàn bạo thì nên tỏ ra đạm bạc cho người trông vào. Nay vừa mới vào được đất Tần, đã nghĩ ngay đến chuyện an hưởng dật lạc thì khác nào như người ta vẫn nói: “Giúp vua Kiệt làm điều bạo ngược”. Vả chăng “Nói thật mất lòng” nhưng “thuốc đắng dã tật” (nguyên văn: Trung ngôn nghịch nhĩ lợi ư hành, độc dược khổ khẩu lợi ư bệnh). Xin Bái công hãy nghe lời Phàn Khoái.

Nghe được lời khuyên của mưu sỹ Trương Lương, Lưu Bang tỉnh ngộ, lệnh cho quân sỹ đóng cửa thành Hàm Dương rút lui về Bái Thượng như lời Phàn Khoái để bảo toàn lực lượng, tránh được một mối nguy hiện hữu từ đối thủ truyền kiếp Hạng Vũ.

Tháng 11 năm 206/TCN, sau khi thu phục được toàn bộ đất Tần, Hạng Vũ cùng đại quân tiến vào Hàm Dương, Lưu Bang dẫn theo Trương Lương vào dưới trướng của Tây Sở bá vương Hạng Vũ để yết kiến và “tạ tội”, Phàn Khoái lại được đi theo để bảo vệ chủ soái Lưu Bang. Á phụ (Phạm Tăng), tay mưu sỹ già của Hạng Vũ bày ra tiệc Hồng Môn Yến để nhân cơ hội mà diệt Lưu Bang trừ hậu họa. Theo kế hiểm, Phạm Tăng sai một tráng sỹ là Hạng Trang (cháu Hạng Vũ) múa kiếm biểu diễn, nhân thể hạ sát Lưu Bang ngay cuộc tiệc khi có ám hiệu từ Hạng Vũ, tuy nhiên Hạng Vũ vẫn chần chừ. Hạng Bá, chú của Hạng Vũ, người luôn xem Trương Lương là ân nhân của mình từ ngày cùng là phạm nhân “trốn nã” ở vùng rừng núi Hạ Bì, ngầm biết kế độc của Phạm Tăng nên cùng ra múa kiếm cốt để che đỡ cho Lưu Bang khỏi những đường kiếm “vô tình” mà oan nghiệt của Hạng Trang. Cuộc tiệc đi vào giai đoạn cao trào, Phàn Khoái đoán biết cơ sự, ra hiệu cho Lưu Bang rút lui ra ngoài doanh rồi giục Lưu Bang theo mình bỏ trốn khỏi cuộc tiệc. Trong lúc trốn chạy, Lưu Bang có ý lăn tăn còn muốn quay lại, không thể thất lễ khi ra về mà chưa chào từ biệt Tây Sở bá vương Hạng Vũ. Phàn Khoái khuyên can:

– Việc đã rất nguy cấp, xin Bái công lên ngựa về gấp. Ngài muốn thi hành đại sự thì không nên câu nệ đến những tiểu tiết tầm thường mà bỏ qua việc lớn…

Và rồi Phàn Khoái kéo xệch vị chủ tướng của mình bỏ trốn, để lại mưu sỹ Trương Lương và hơn chục quân sỹ ở lại, lót tót về sau. Đây là lần thứ hai, Phàn Khoái khuyên can khẳng khái mà đúng lúc, cứu cho Lưu Bang thoát khỏi 2 “bàn thua” trông thấy, để sau này còn được vẫy vùng khắp Trung Nguyên, giành lấy cả thiên hạ mà lập nên đại công nghiệp cho nhà Hán, một đế quốc duy nhất có tầm ảnh hưởng lớn kéo dài hơn 4 trăm năm trong lịch sử Trung Quốc cho đến tận ngày nay.

Thì ra, trung thần (thường) mới có được trung ngôn; trung ngôn bao giờ cũng nghịch nhĩ, mà nghịch nhĩ thì mới lợi ư hành, còn những lời đường mật, dễ nghe chắc gì đã là sự thật, chắc gì đã có ích lợi cho người nghe để mà hành động! Câu nói của vị quân sư người Hán, người từng được xếp đứng trong “top ten” những mưu sỹ tài danh bậc nhất Trung Hoa mọi thời đại (trên cả Khổng Minh) cách nay đã chừng 22 thế kỉ mà vẫn còn vẹn nguyên giá trị. Thế nên ông bà ta xưa nói theo tiếng Việt cho dễ hiểu mà chẳng cần văn hoa như Tử Phòng: Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng./.

Gửi phản hồi