NGHE NHƯ VỊT NGHE SẤM (P2)

Ảnh minh họa (Internet)

Tương truyền, sinh thời cụ Trình theo học ông thầy nho nổi tiếng xứ Thanh là cụ Bảng nhãn Lương Đắc Bằng, một nho gia, một khanh tướng nổi danh dưới triều Lê Trịnh, người đã dạy và phát hiện ra tài năng xuất chúng của cậu học trò đến từ vùng thuốc lào Vĩnh Bảo (huyện Vĩnh Lại, trấn Hải Dương nay thuộc Hải Phòng). Thầy Bằng đã tuyệt đối tin tưởng, chẳng những gửi con trai (là Thượng thư Bộ Lễ Lương Hữu Khánh sau này) cho cụ Trình để tầm sư học đạo mà còn tặng cho cụ Khiêm cuốn sách quý về lý học tên là Thái Ất thần kinh mà chính cụ Bằng đã được một dị nhân người Hoa tặng cho trong một lần đi sứ bên Tàu.

Về cuốn sách quý Thái Ất thần kinh (hay Thái Ất) mà cụ Trình được thầy Bằng tặng cho như là một sự tín thác của bậc tiền hiền, thâm uyên về lý số cho lớp hậu sinh khả úy. Tuy nhiên, đến nay cũng ko ai biết chắc nội dung vàng ngọc của nó như nào nhưng có lẽ cụ Trạng nhà ta đã trau dồi thông tỏ và kỳ dụng đưa nó lên một tầm cao siêu việt. Cũng có giả thuyết cho rằng, Thái Ất thực ra chẳng phải của ông dị nhân người Tàu nào cả, mà là một công trình nghiên cứu dịch lý, một trước tác do chính dòng họ Lương (Vân Nam, TQ) hoặc do chính cụ Lương Đắc Bằng soạn ra để tặng cho hậu thế, tuy nhiên đến nay nó đã hoàn toàn thất bản tại VN. Nói về cuốn sách bí hiểm này, trong cuốn Thái Ất Dị giản lục, cụ Lê Quý Đôn có viết: “Thuyết ấy (Thái Ất) phần nhiều nói về binh pháp: địch ta, chủ khách, lợi hại, được mất, cái cơ thịnh suy, trị loạn; cái thế thắng thua, yên hay nguy, ko điều gì là ko bày rõ. Nếu hiểu lẽ ấy mà biết phòng bị, ứng phó thì có thể tìm điều lành, tránh điều dữ, tiêu họa, vời phúc thì, mới là người dùng giỏi sách Thái Ất vậy…”.

Rồi ở một đoạn khác cụ Đôn lại viết: “Làm tướng mà ko biết sách ấy thì sẽ mờ tối ở chỗ đánh hay giữ, tiến hay ngừng; ko lấy gì mà quyết đoán các nghi mưu khi ra trận tuyến; làm tể tướng mà ko biết sách ấy thì sẽ sai lầm ở sự động hay tĩnh, cất lên hay đặt xuống; ko lấy gì để quyết đoán những nghị luận lớn cho triều đình…” (Thái Ất dị giản lục – NXB Văn hóa Thông tin, 2001). Gớm, chỗ này chắc cụ Bác học nhà ta nhìn xa trông rộng mà nói quá lên í chứ, ở Ukraine kia tướng tá nó có thời gian đâu, chỉ tập tàu bay, hỏa tiễn, ca nông rồi ra trận mà nó chỉ huy ra trò, nó bắn cứ ầm ầm sập cầu, đổ nhà, cháy chợ tùm lum, chắc gì nó đã biết chữ Tàu mà đọc Thái Ất thần kinh hihi…

Đó là nói về chuyện xưa, chuyện của các bậc tiền nhân, thánh hiền với kinh thư sách luận để thấy sự thông tuệ hơn người của cụ Trạng Trình nhà ta trong việc nghiên cứu sách vở, điều quan trọng hơn cả là cụ đã hiểu và dụng nó một cách sáng suốt, mẫn tiệp vào thực tiễn đương thời để tiên đoán vận mệnh tương lai của xã tắc, chứ ko cứ phải có sách và đọc sách quý là thông tỏ được ngay, chẳng thế mà Khổng Tử từng nói: “Tập tin bất như vô thư” đó sao.

Ảnh minh họa (Internet)

Cũng theo giai thoại, sinh thời cụ Trình nhà ta còn là nhà dự báo, nhà hoạch định chiến lược xuất sắc, bởi thế mà chỉ cần có 3 câu nói tưởng chừng như vu vơ, ko ăn nhập gì với câu chuyện của các sứ giả tại thời điểm những “cuộc tham vấn chính trị” đó, lại khiến cho 3 tập đoàn chính trị phong kiến đương thời (Lê –Trịnh, Mạc, Nguyễn) tự lựa chọn cho mình những quyết sách chính trị phù hợp, tự tìm cho mình chỗ đứng, chỗ dung thân khả dĩ mà rốt cuộc cụ Trình chả phải mất lòng ai (!). Ba câu nói, 3 lời khuyên để đời đó của cụ đại loại là: 1. “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” đối với Đoan quốc công, Trấn thủ Thuận Hóa Nguyễn Hoàng, người đã khai lập Đàng Trong đặt nền móng cho nhà Nguyễn sau này; 2. “Giữ chùa, thờ Phật thì ăn oản” dành cho Thái sư Trịnh Kiểm, người khởi đầu cho thể chế “tượng vua, quyền chúa” kéo dài xuyên 3 thế kỉ; và 3. “Cao Bằng tuy thiểu, khả duyên sổ thế” đối với Mạc Mậu Hợp, phòng nhỡ một khi thất thủ Thăng Long. Người ta cho rằng với 3 lời khuyến giáo “hợp lòng người” ấy của cụ đã hoạch định cơ đồ, “sắp xếp giang san” giúp cho Đại Việt tránh bớt nạn binh đao, khói lửa, bớt gây đau thương tang tóc cho dân lành ở thế kỷ XVI, đó cũng là một lẽ. Tuy nhiên, ta cũng nên thử lật ngược lại vấn đề rằng: phải chăng do chính cụ đã vẻ đường cho hưu chạy, đã góp phần gây ra nạn cát cứ trên toàn cõi Đại Việt, chia rẽ đất nước làm 3 phần, hình thành thế chân vạc “Tam quốc VN”, gây cho lòng người ly tán, cùng với đó là các cuộc chiến tranh Nam – Bắc triều, Trịnh – Nguyễn, Lê – Mạc (Cao Bằng) diễn ra triền miên hao người, tốn của kéo dài gần trăm năm… (?) May thay ở phương Bắc, thời bấy giờ nhà Minh đã vào giai đoạn thoái trào, Thiên triều chỉ còn là con ngáo ộp ngồi chờ sự cống nạp của các tiểu quốc lân bang mà ko còn đủ sức để nghĩ tới trò ngư ông đắc lợi, chứ ví như lúc này có nạn ngoại xâm thì ko ai biết chắc điều gì sẽ xảy ra (?) Tuy nhiên, qua các cuộc phân tranh, cũng nhờ sự phân mảnh bất đắc dĩ này mà họ Nguyễn Đàng Trong đã tích cực mở rộng cương thổ về phương Nam để dần hoàn thiện bờ cõi tạo nên hình chữ “S” mềm mại như sau này.

Thực ra lịch sử là lich sử, khó có nói trước được điều gì, cụ Trình nhà ta tài giỏi hơn người, thuật lý số xem như lấy hết phần thiên hạ, nhưng ngay cả cái việc chọn thời điểm ứng thí ra làm quan và việc cụ chọn phò rập nhà Mạc lúc này liệu gì đã ổn (?)

Sinh thời, cụ tiên sinh nhà ta sau những năm đèn sách, dùi mài kinh sử đã ko vội lao vào chính sự, cụ bỏ qua cả thảy 8 khoa thi dưới 2 triều đại (nhà Lê sơ: 6 và nhà Mạc: 2), đến năm Đại chính thứ 6 (1535) triều Mạc Đăng Doanh, vị vua thứ 2 của nhà Mạc, cụ mới quyết chí ra ứng thí đỗ đạt và làm quan. Bấy giờ Thái Tổ – Mạc Đăng Dung tuy đã buông rèm nhiếp chính ở ngôi Thái Thượng hoàng, nhưng sức ảnh hưởng, sự thu phục nhân tâm của ông đối với thần dân Thăng Long và cả dân chúng Bắc Hà nói chung vẫn còn rất lớn, điều này thể hiện rõ trong chính sử, cả Đại Việt Sử ký toàn thư (Lê Hy, Bản Chính hòa) và Đại Việt thông sử (Lê Quý Đôn) đều ghi nhận: “lúc này thần dân phần nhiều xu hướng về Đăng Dung, đều ra đón về kinh”. Do độ che phủ bởi cái bóng cả đó mà đến thời Đăng Doanh triều chính nhà Mạc còn khá vững vàng, thiên hạ có vẻ thái bình, bá tánh đã bớt đi phần loạn lạc, nên đường quan lộ của cụ tiên sinh cũng khá trôi. Tuy nhiên, sau 7 năm quan trường ở kinh đô ngàn năm văn vật, với phẩm tước ngời ngời, đang yên, đang lành đùng đùng cụ dâng sớ hạch tội, đòi trảm ngay 18 tay lộng thần, nghịch tặc ở triều đình nhưng bề trên ko thuận, cụ quyết rủ áo từ quan về lại kinh đô thuốc lào Vĩnh Bảo để vui thú điền viên, thơ phú, cụ xây quán Trung Tân, lập am Bạch Vân, bắc cầu Nghênh Phong và Tràng Xuân vv…

Ngày nay, qua các tư liệu, sách vở và giai thoại, thiên hạ chỉ biết lý do cụ từ quan là vậy. Ngoài ra còn có lý do hay áp lực nào khác? Trong cuốn Nam Hải dị nhân liệt truyện, cụ Phan Kế Bính (1875-1921) viết rằng: “Ngài (cụ Trình) làm quan được 8 năm trước sau dâng sớ hạch 18 người lộng thần, nhân có chàng rể là Phạm Dao cũng kêu hoạnh, ngài sợ phải vạ lây, mới từ quan cáo về dưỡng lão”. Phạm Dao ở đây cụ Bính muốn nói đến là Phú Xuyên hầu Phạm Dao con trai của Vinh quận công Phạm Quỳnh, một thế lực chính trị ngầm khét tiếng ở kinh thành, đã tác yêu tác quái xuyên suốt qua 2 đời vua Mạc là Hiến Tông (1540-1546) và Tuyên Tông (1546-1561). Đến như đại công thần nhà Mạc là Thái tể Lê Bá Ly, một võ tướng đầy quyền lực và công trạng lẫy lừng mà cha con kẻ lộng thần này đang đêm còn dám đưa quân đến vây bắt để hảm hại, may nhờ có lực lượng ứng cứu kịp ông thoát được, đành dẫn theo 14 ngàn quân Mạc vào Thanh Hóa để theo về dưới trướng vua Lê. Vì vậy nên cụ Trạng nhà ta, một quan văn “chân yếu tay mềm”, trong tay ko có lây một tấc sắt, đã lỡ đụng vào “tổ kiến lửa” kia thì việc lo khăn gói lên nhận sổ bảo hiểm ngay và luôn cũng là điều dễ hiểu trong cái thời cuộc rối ren bấy giờ.

Có một điều , còn có thể có một nguyên do nữa cũng ko kém phần quan trọng đã đốc thúc cụ sớm nhận sổ hưu đó là, sau 7,8 năm phò rập nhà Mạc, cụ kịp nhận ra uy tín và quyền lực nhà Mạc đã ngày một suy giảm nghiêm trọng khi Mạc Phúc Hải (Mạc Hiển Tông) lên ngôi (1540), đặc biệt sau cái chết của Thái Thượng hoàng (1541), trong khi phong trào trung hưng nhà Lê đang ngày càng mạnh mẽ ở vùng Thanh – Nghệ, sau sự kiện Nguyễn Kim tìm ra được chúa Chổm (Lê Ninh, con vua Lê Chiêu Tông) đang lang thang ở xứ Ai Lao mang về dựng cờ “phù Lê, diệt Mạc” (1533). Ở giai đoạn này cụ đã tính số Thái ất biết cơ nhà Lê sẽ khôi phục được giang sơn, cụ có một bài thơ khá nổi tiếng nói lên điều này:

Non sông nào phải buổi bình-thời

Thù đánh nhau chi khéo nực cười!

Cá vực, chim rừng ai khiến đuổi?

Núi xương, sông tuyết thảm đầy nơi!

Ngựa phi chắc có hồi quay cổ.

Thú dữ nên phòng lúc cắn người.

Ngán ngẩn việc đời chi nói nữa,

Bên đầm say hát nhởn nhơ chơi!

    Thông qua bài thất ngôn bát cú này cụ đã gửi gắm rất nhiều điều, song theo phân tích thì những dự báo chính trị chỉ tập trung ở 2 câu 5 và 6. Câu 5: Ngựa phi chắc có hồi quay cổ, có ý dự báo rằng sự nghiệp trung hưng của nhà Lê chắc chắn sẽ thành công; Câu 6: Thú dữ nên phòng lúc cắn người, ý nói chúa Trịnh sẽ lấn át, nắm quyền điều hành triều chính của nhà Lê… Như vậy, nếu lập luận trên là đúng thì việc “rút lui” khỏi triều đình nhà Mạc một phần do cụ đã “nhầm” khi chọn bên hay nói cách khác cụ đã phò chưa đúng minh chủ…(?)   

Ảnh minh họa (Internet)

Ngày nay, nói việc cụ Trạng từ quan về ẩn sĩ, vui cảnh điền viên, ngao du đây đó, khi thì với vài vị sư, khi với vài bạn thơ, tránh xa chốn phồn hoa đô hội lao xao và  ko màng phú quý, danh lợi… thì cũng ko ngoa, tuy nhiên xét ở góc độ nào đó thì có những điều chưa hẳn đã đúng. Theo một số tư liệu, sau khi cụ rút lui khỏi chính trường về trí sỹ tại quê nhà, cụ vẫn chưa thể rời khỏi nghiệp quan trường và an nhàn như ta tưởng. Ngoài triều đình nhà Mạc, các phe phái chính trị đương thời vẫn thậm thụt, thường xuyên lui tới để “tham vấn chính trị” cụ. Riêng với nhà Mạc, triều đình vẫn rất cần và trọng dụng cụ xem như đương chức, thậm chí còn thăng quan to, tiến chức trọng cho cụ ngay cả trong lúc đang nghỉ hưu (?) Cụ Phan Kế Bính viết: “Ngài ở nhà, nhưng vua nhà Mạc vẫn coi ngài quý trọng, nhà nước có việc gì to thì sai sứ đến hỏi tận nhà, hoặc khi mời về kinh mà hỏi. Ngài bàn định lắm điều ích lợi cho nhà nước, nhà Mạc phong ngài làm Lại bộ Thượng thư, Thái phó Trình Quôc công…”

Wâu! Làm quan tại nhà, nghỉ rồi vẫn được phong tước “Công”, bổ chức Thượng thư Bộ lại, một bộ rất quan trong trong các triều đình phong kiến VN, xem như Bộ trưởng Bộ Nội vụ ngày nay, có ai mà được như cụ, có khi còn sướng hơn cả đương kim Hoàng thượng nhà Mạc í chứ. Ngày xưa mẹ cụ (bà Nhữ Thị Thục) khi lấy chồng thường hay mơ và rất kỳ vọng sinh được quý tử lớn lên sẽ ngồi vào ngôi “Số 1” thiên hạ, chứ ko phải tước Công, chức Thượng thư, vẫn là kẻ bề tôi như cụ bây giờ.

Lại nói chuyện nay, chuyện của hậu thế thời đại CN4.0, thời đại mà 4G, 5G lên ngôi tỏa khắp, sóng wifi thấm sâu trong từng xóm giềng, ngõ phố, từng thớ đất, gốc rạ, đường cày. Thời đại mà ra ngõ gặp anh hùng bàn phím, ai cũng có thể làm thi phú, sấm truyền, in ấn thi ca; những Facebooker, Youtuber, Tiktoker… xuyên đảo, lùng sục khắp nơi, sẵn sàng dựng kịch bản, bấm máy giữa đuờng, giữa chợ, tranh thủ “chớp” lấy những khoảnh khắc, những thứ dị hợm nhất có thể, bất chấp sự việc, hiện tượng tốt xấu, đúng sai thế nào miễn là “sáng tạo” được những sản phẩm ko đụng hàng, ko giống ai để tuồn lên mạng với hàng ngàn lý do, mục đích khác nhau.

Vì thế ngày nay những áng văn chương, những lời sấm ký mang triết lý nhân sinh sâu sắc, uyên thâm của cụ Trạng (mấy ai hiểu hết) lại được người ta mang ra sao chép, in ấn, luận giải, truyền tụng một cách vô thưởng, vô phạt; thậm chí họ còn sáng tạo ra những “sản phẩm na ná” cho là sấm truyền của cụ Trạng, rồi thêm bớt câu cú, chữ nghĩa cho phù hợp với các ý đồ, mục đích tuyên truyền của họ. Những việc làm đó chẳng những làm rối loạn thông tin, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống văn hóa tinh thần, đến môi trường thưởng thức văn học, nghệ thuật của công chúng, mà còn làm tổn hại đến giá trị đích thực của những tác phẩm văn học cũng như thanh danh và hình ảnh một nhà văn hóa lớn, một danh nhân văn hóa Việt Nam thế kỷ XVI, đáng được nể trọng. Hết.

(Xem Phần 1)

Một suy nghĩ 1 thoughts on “NGHE NHƯ VỊT NGHE SẤM (P2)”

Gửi phản hồi