CHUYỆN SỬ TÀU VÀ UY DANH CỦA ĐẠI TƯỚNG LÊ HOÀN

Nhân đọc cuốn An Nam truyện của dịch giả Châu Hải Đường (Nxb Hội Nhà văn, 2021), đối chiếu với một số sử liệu cũ trong nước mới thấy rằng, những năm cuối cùng của thiên niên kỉ thứ nhất (Công lịch), thiên niên kỉ mà Giao Châu chìm sâu trong đêm dài nộ lệ bắc thuộc, đã xuất hiện một vị tướng quân kiệt xuất mà tên tuổi ngài đã gắn liền với trận chiến Bình Lỗ (981), một trong những chiến thắng vang dội góp phần quyết định vận mệnh lịch sử và tương lai của Đại Việt sau này, đó là Đại tướng quân Lê Hoàn. Cũng từ chiến công đó, cái tên Thập đạo tướng quân Lê Hoàn đã trở thành nỗi ám ảnh, nỗi khiếp đảm một thời của quan quân nhà Tống, dã tâm xâm lược, tư tưởng thôn tính “phiên thuộc” phương nam cũng từ đó tạm biến mất trong đầu họ trong ít nhất vài chục năm sau, khi Đại Hành Hoàng Đế còn ngự trị phương nam. Đúng là khiếp một vành!

Lê Hoàn – Ảnh minh họa

Mùa thu năm Canh Thìn (980), khi biết tình cảnh “Mẹ góa con côi” của Thái hậu Dương Vân Nga và ấu chúa Đinh Toàn, một cơ hội hiếm thấy cho dã tâm xâm lược Đại Cồ Việt của phương bắc, thể hiện rõ trong tấu thư của Hầu Nhân Bảo, quan trấn thủ thành Ung Châu tấu lên Tống Thái tông mà rằng: “Nếu bỏ lúc này ko mưu sự, sợ lỡ cơ hội”, Thái tông Triệu Quang Nghĩa sau một thời gian ra vẻ chần chừ chuyện “tang gia” vua Đinh liền xuống chiếu xuất quân thủy bộ hai đường “thảo phạt” Đại Cồ Việt.

Theo Tống sử, “vương sư” nhà Tống lúc này là một đội quân hùng hậu, thiện chiến, với sự góp mặt của nhiều chiến tướng dày dạn trận mạc, từng treo mình trên lưng ngựa theo Tống Thái tông đánh đông dẹp bắc. Trong phần Giao Chỉ, Tổng sử chép: “Thái Bình Hưng Quốc năm thứ năm, mùa thu, xuống chiếu lấy Lan Châu Đoàn luyện sứ Tôn Toàn Hưng, Bát tát sứ Trương Toàn, Tả Giám môn vệ tướng quân Thôi Lượng làm bộ thự binh mã đường bộ theo đường Ung Châu tiến sang. Ninh Châu Thứ sử Lưu Trừng, Quân khí khố Phó sứ Giả Thực, Cung phụng quan giáp môn chi hậu Vương Soạn làm bộ thự binh mã đường thủy, theo đường Quảng Châu tiến sang…” (Ngoại quốc 4, quyển 488).

Mùa Đông năm đó, với tài thao lược hơn người, biết trước được ý đồ của phương bắc sẽ dựng chuyện: “Đại tướng Lê Hoàn chuyên quyền dựng bè đảng” hòng xâm lược nước ta. Trong nước, một mặt Lê Hoàn ra sức dẹp yên nội loạn, chấn chỉnh quân lữ, được Thái hậu trao long cổn và quân sỹ tôn lên ngôi vua, thống lĩnh toàn quân, chuẩn bị kháng chiến. Mặt khác, ông vẫn bình tĩnh, tự tin cho thông sứ, sai Nha hiệu Giang Cự Vọng (sử Tàu ghi là Hoàng) sang Khai Phong dâng biểu, vẫn đứng tên (vua) Đinh Toàn, trong một nỗ lực nhằm tháo gỡ ngòi nổ chiến tranh đã cận kề, tránh nạn binh đao ko cần thiết. Qua đó dò xét tình hình và thái độ của Tống Thái tông. Tuy nhiên, với dã tâm bành trướng đã ăn vào máu người phương bắc, nên chuyện gì đến, nó đã đến: “…Hoàng thượng xét thấy chúng muốn trì hoãn vương sư, bèn bỏ đi ko phúc đáp” (Tống sử).

Như chúng ta cũng đã biết, kết cục thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Tống lần thứ nhất thuộc về quân dân Đại Cồ Việt và kết thúc tưng bừng ở chiến thắng Bình Lỗ, điều này đã rõ và đã được cả sử ta, lẫn sử Tàu đều ghi chép. Tuy nhiên, điều ta thường thấy là sau mỗi chiến cuộc, với góc nhìn nhận khác nhau mà sử ta chép một đằng, sử Tàu đôi khi lại ghi một nẻo. Sử Tàu nói chung là ngoài những lời lẽ hồ đồ, trịch thượng ra họ ghi chép rất cụ thể, chi tiết từng trận đánh mà họ cho là “đại thắng”, nhưng họ lại rất vắn tắt và “kiệm lời” sau các trận “đại thua”; càng thua, càng vắn tắt, thua tan nát thì ghi là “rút lui, lui quân”… Chẳng hạn như cánh thủy quân Tống do Lưu Trừng chỉ huy vào cửa Bạch Đằng, Lê Hoàn chủ ý nhử địch, đóng cọc ngăn sông và chống trả yếu ớt để dụ quân Tống vào sâu trong nội địa, tự dẫn xác vào tử huyệt Bình Lỗ. Tống sử chép: “…Mùa xuân năm thứ 6 (981), lại phá quân giặc ở cửa sông Bạch Đằng, chém hơn ngàn thủ cấp, bắt được hơn hai trăm chiến hạm cùng hàng vạn giáp trụ…”. Thế nhưng cánh quân bộ do chủ tướng Hầu Nhân Bảo chỉ huy đi tiên phong từ Lạng Sơn xuống, ko hiệp đồng được với cánh quân đi sau do phó tướng Tôn Toàn Hưng chỉ huy, nên vừa tiến, vừa lo sợ, đã bị Lê Hoàn nhử đưa vào Bình Lỗ và tiêu diệt gọn; các cánh quân khác cũng bị quân nhà Lê phục binh, truy kích đánh cho tan nát, nhưng sử Tàu chỉ chép rằng: “…(Lê) Hoàn trá hàng để dụ Nhân Bảo, Nhân Bảo bèn bị giết. Chuyển vận sứ Hứa Trọng Tuyên dâng tấu tâu chuyện này, bèn rút quân về”, hết (!). Như vậy theo sử Tàu thì ko có đánh đấm gì cả, chỉ có Hầu Nhân Bảo bị Lê Hoàn lừa giết chết và kết thúc chiến tranh (?)

Sự thật thì trận Bình Lỗ là một trong những đỉnh cao của nghệ thuật chiến tranh nhân dân của người Việt xưa qua tài chỉ huy thao lược, hơn người của “đại kiến trúc sư” Thập Đạo tướng quân Lê Hoàn. Trận chiến này đã làm cho quan quân nhà Tống, đến cả Tống Thái tông kinh hồn, bạt vía, hàng vạn quân sĩ đã bại vong, hàng chục chiến tướng tử trận và bị bắt đưa về Hoa Lư, số còn lại về đến đất bắc cũng bị Tống triều xử trảm hoặc tống giam, một trận thua nhục nhã làm bẽ mặt cả “Thiên triều”. Tống sử chép: “Vua sai sứ đến hặc tội (Lưu) Trừng, (Giả) Thực, (Vương) Soạn. Ít lâu thì Trừng bị bệnh chết, còn bọn Thực bị chém ở ngoài chợ Ung Châu. Toàn Hưng về đến cửa khuyết, cũng bị thuộc lại giết chết, những kẻ còn lại đều bị trị tội nhiều ít khác nhau…”       

Sau chiến thắng Bình Lỗ (28/4/981), uy danh của Lê Hoàn (vua Lê Đại Hành) và thế nước Đại Cồ Việt lên cao chưa từng có trước đó, thậm chí cả các triều đại phong kiến sau này. Việc bang giao giữa 2 nhà Tống – Lê đã bước sang một trang mới, thậm chí Tống Thái tông phải biết “kiên dè, hậm hực” trong nhiều nghi thức bang giao mà vua Việt tự sắp đặt theo ý mình, hoặc thực hiện các hành động răn đe sứ quan nhà Tống. Đơn cử như việc Lê Hoàn ko bái lạy khi nhận chiếu chỉ, sắc phong của vua Tống, từ chối ko cho sứ nhà Tống đến Hoa Lư mà chỉ tiếp chiếu chỉ ở biên giới giáp nước ta, từ chối và bỏ dần lệ cống nạp… Tống Cảo sau khi đi sứ Việt (990) về tấu rằng: “…(Lê Hoàn) tự nói là năm gần đây giao chiến với giặc man, bị ngã ngựa gãy chân, nên nhận chiếu ko bái lạy; … Nhưng Hoàn tính vốn hung hãn, cậy có núi biển hiểm trở, nhiều lần đến cướp đoạt, dần mất lễ phiên thần”

Trong hai năm 994,995, sau vụ án Bốc Văn Dũng giết người trong nước, cùng gia đình bỏ trốn đến trấn Như Tích (Khâm Châu – TQ), viên quan trấn thủ địa phương là Hoàng Lệnh Đức bao che cho Dũng ẩn nấp, trong khi nhà chức trách phiên trấn Triều Dương (Đại Cồ Việt) gửi công lệnh buộc giao nộp kẻ phạm tội nhưng Lệnh Đức vẫn cố tình ko nghe, vua Lê ra lệnh cho các quan trấn biên phía bắc và đông bắc xuất quân liên tiếp tấn công các phiên trấn nam Tống là Khâm Châu và Ung Châu, buộc Tống Thái tông phải xuống nước, cấp tốc sai Trần Nghêu Tẩu làm Chuyển vận sứ, cho người đến Hoa Lư để “úy lạo” vua Lê nhằm xoa dịu tình hình và truy bắt bọn Bốc Văn Dũng cùng gia đình hơn 130 người giao nộp cho nhà chức trách Đại Cồ Việt xét xử. Đến tháng 7 năm 996, Tống Thái tông  lại sai “Chiêu văn quán Lý Nhược Chuyết làm Quốc tín sứ đem chiếu thư cùng đai ngọc ban cho Hoàn…”. Sau vụ này, sứ nhà Tống có ý phàn nàn về các vụ binh biến ở vùng nam Tống vừa qua, vua Lê nói lái đi rằng: “Những kẻ đến cướp bóc ở trấn Như Hồng khi trước là bọn giặc man ở ngoài địa phận nước tôi vậy. Hoàng đế có biết đó chẳng phải là quân Giao Châu không?” và “Giả như Giao Châu thực quả chống mệnh làm phản, thì tất trước tiên đánh vào Phiên Ngung (thành Quảng Châu ngày nay – TG), thứ đến là đánh Mân, Việt (đất Nam Việt xưa – TG), há chỉ dừng lại ở trấn Như Hồng mà thôi ư?” Đúng là thế nước đã mạnh, tương quan bắc – nam đã khác, khi đã tạo được ưu thế về quân sự thì tiếng nói về ngoại giao cũng tăng thêm sức nặng, có lẽ trên bàn nghị sự song phương với người Tàu, lịch sử người Việt ko mấy ai nói được thế bao giờ!

Ảnh minh họa

Một trong những sự kiện cũng liên quan đến uy danh của Lê Hoàn mà sử Tàu ghi chép khá cụ thể, đọc chuyện của ngàn năm xưa mà vẫn ko thể nhịn được cười cho nỗi nhục của quan tướng nhà Tống lúc bấy giờ. Họ sợ bóng vía Lê Hoàn đến nỗi mà mong ông chết đi và đồn đoán đủ điều, Tống sử chép rằng: “Mùa xuân năm Chí Đạo nguyên niên (995), Quảng Nam tây lộ Chuyển vận sứ Trương Quán…tâu: nghe phong thanh rằng Lê Hoàn đã bị họ Đinh đuổi đi, gom dư chúng ở nơi núi ngoài bể, ko còn nơi nương náu, cho nên lấy việc cướp bóc để tự cấp, đến nay thì Hoàn đã chết. Quán lại dâng cả biểu mừng…”. Sau khi nhận được tin này, Tống Thái tông liền xuống chiếu, sai Trần Sĩ Long và Võ Nguyên Cát cấp tốc xuống Lĩnh Nam để nghe ngóng tình hình Đại Cồ Việt mà chủ yếu là dò xét về Lê Hoàn. Sử Tàu ghi tiếp: “Bọn Sĩ Long phục mệnh, cũng nói như lời Quán. Kỳ thực, Hoàn vẫn còn mà lời đồn đại ấy là sai… không bao lâu có kẻ lái buôn từ Giao Chỉ về, nói rõ Hoàn vẫn làm chủ ở đó như cũ.” Vì chuyện “báo cáo láo” này mà Tống Thái tông cả giận: “Bèn xuống chiếu hặc tội bọn Quán, khi ấy Quán bị bệnh chết, Chiêu Mỹ, Sĩ Long, Nguyên Cát phải chịu tội”…

Đó là những ghi chép ít ỏi, quá khiêm tốn trong cả sử ta lẫn sử Tàu về Đại tướng Lê Hoàn và Đại Cồ Việt, nhưng một điều chắc chắn rằng trong thực tế, nỗi khiếp sợ của quan tướng nhà Tống sau trận Bình Lỗ là một thực tế sống động và hiển hiện đã ngấm sâu trong tiềm thức của họ qua truyền miệng và các thư tịch ko chính thống, được thuật lại bởi những tướng sỹ đã từng tham chiến và bại trận ở đó. Vì thế uy danh của Đại tướng Lê Hoàn và thế nước Đại Cồ Việt sau chiến thắng Bình Lỗ còn lớn hơn nhiều so với những dòng lịch sử mà người Tàu và sử ta ghi chép. Và có lẽ, tầm vóc của chiến thắng Bình Lỗ, uy phong của vua Lê Đại Hành đã lan sang và còn ảnh hưởng kéo dài đến hàng trăm năm sau dưới thời trị vì của nhà Tống Trung Quốc. Một sự kiện lịch sử xảy ra sau đó đúng 96 năm (1077) dưới thời nhà Lý, khi Lý Thường Kiệt lập phòng tuyến trên sông Như Nguyệt, đang đêm đọc lại bài thơ Thần trong đền thờ 2 danh tướng Trương Hống, Trương Hát năm xưa, làm cho quan quân nhà Tống kinh hồn, bạt vía mà tan đó chẳng phải là thơm lây bởi cái uy danh của  Lê Hoàn và chiến thắng Bình Lỗ gần trăm năm trước (?) Lịch sử ngày nay cũng đã khá công bằng trả lại bài “Nam quốc sơn hà”, bản “Tuyên ngôn độc lập” đầu tiên của nước Việt về đúng chủ cũ của nó, đó là là Lê Hoàn và chiến thắng Bình Lỗ. Một điều đáng tiếc cho lịch sử nước nhà là cho đến nay, ko một sử gia nào của Việt Nam xác định chính xác được thành Bình Lỗ, nơi diễn ra trận quyết chiến sinh tử, quyết định thắng lợi toàn cục trong cuộc kháng chiến chống Tống lần thứ nhất, một chiến công hiển hách của cha ông ta, khẳng định nền độc lập, tự chủ, tự cường cho dân tộc vào cuối thế kỉ 10, hiện ở vào vị tri nào, thuộc tỉnh nào của Bắc Bộ nước ta (?). Được biết, gần đây trong một số bài viết, một số nghiên cứu của bạn đọc, cư dân mạng cho rằng, quân thành Bình Lỗ của Lê Hoàn năm xưa nằm ở một vị trí thuộc nhánh sông Cà Lồ, đoạn gần nơi hợp lưu với Sông Cầu, nơi tiếp giáp giữa 3 tỉnh, thành Hà Nội (Sóc Sơn), Bắc Ninh và Bắc Giang, địa điểm gần với đền thờ hai vị danh tướng đời Tiền Lý . Đây có lẽ là một giả thuyết khá thuyết phục và hợp lý, bác bỏ hoàn toàn giả thuyết của một số sử gia hiện đại, mà đại diện là gần đây một nhà sử học tên tuổi viết trên một tờ báo uy tín cho rằng trận Bình Lỗ diễn ra gần sông Bạch Đằng (như sử Tàu), nơi tướng Tàu Hầu Nhân Bảo tử trận là hoàn toàn thiếu cơ sở.. 

Để kết thúc bài viết nói về uy danh và công lao của Lê Hoàn với Đại Cồ Việt năm xưa, xin mượn lời của nhà sử học Lê văn Hưu ca ngợi rằng: “Lê Đại Hành… tóm Quân Biện, Phụng Huân (tướng nhà Tống) dễ như lùa trẻ con, như sai nô lệ.Chưa đầy vài năm mà bờ cõi định yên, công đánh dẹp chiến thắng dẫu là nhà Hán, nhà Đường cũng ko hơn được ”.

        Thăng Long tháng 10, Covid nguyên niên.

👉 Mời wúy zị xem Bài tương tự

Một suy nghĩ 1 thoughts on “CHUYỆN SỬ TÀU VÀ UY DANH CỦA ĐẠI TƯỚNG LÊ HOÀN”

Gửi phản hồi