Chuyện tào lao: CỎ TƯƠNG TƯ

Ảnh minh họa

CỎ TƯƠNG TƯ

Ông bà ta ngày xưa đúc kết cái gì là y như rằng: CHÍNH XÁC! Ví như cái loại thuốc lào, thuốc lá í, cứ hút vào thì gây bệnh tật, hôi hám mà bẩn bụi, nhớp nháp kinh người, ấy thế mà đến cái thời đại 4.0 này vẫn còn ối người …mê đắm.

Nghe đâu ngay từ những ngày đầu thuốc lào, thuốc lá đặt chân vào cái xứ sở hình cong cong, vẹo vẹo này, các cụ nhà ta liền đặt cho hẳn một cái tên rất mĩ miều, rất văn vẻ mà không chữ nghĩa nào có thể đắt cho bằng: Cỏ tương tư (tương tư thảo). Ý là đã trót hút vào rồi thì khó bỏ được, đêm thương ngày nhớ và cũng ngây ngây, dại dại tựa như kẻ mắc cái bệnh tương tư vậy.

Sử sách chép lại rằng nàng Tương Tư Thảo xinh đẹp xuất hiện ở nước ta muộn, vào khoảng độ giữa thế kỉ 17 dưới đời vua Thần Tông, triều Lê trung hưng. Trong “Vân Đài Loại ngữ” Lê Quý Đôn viết: nước Nam ta vốn không có giống thuốc ấy. Từ năm Canh Tý, niên hiệu Vĩnh Thọ (1660), đời vua Thần Tông nhà Lê, người Ai Lao mang giống đến, dân ta mới đem trồng. Quan, dân, đàn bà, con gái đua nhau hút, đến nỗi có người nói rằng: “Nhịn cơm 3 ngày còn được, chứ một lúc nhịn hút thì ko được”…

Wầy! Như vậy ông bà ta ngày xưa cũng đã phê lắm rồi…

Lịch sử thế giới ghi nhận Cỏ tương tư có nguồn gốc xuất phát từ châu Mỹ, sau đó theo gót giày nhà thám hiểm vĩ đại Cristoforo Colombo đến định cư, sinh con đẻ cháu và phát triển mạnh mẽ ở châu Âu. Trước khi đến lục địa già quy nạp môn đệ, “Cỏ tương tư muộn phiền lên xám môi” hàng vạn tín đồ thổ dân Da đỏ, nó được xem như một loại thảo dược dùng để chữa bệnh trong y học truyền thống bản địa. Ngoài tác hại ghê gớm được ghi nhận gây ra cho sức khỏe con người (nghe đâu khoa học quy tội cho “nàng” đã giết chết 100 triệu người trong thế kỉ 20) thì Cỏ tương tư cũng được ghi nhận có một vài điều có ích (?). Theo tác giả Phan Cẩm Thượng, sách Thảo tòng tân đời Nhà Thanh (TQ) xem Cỏ tương tư như một loại độc dược và cũng có ít dược tính: “Tính nó cay cay, trị các chứng phong, hàn, tê thấp, trệ khí, đọng đờm, sơn lam chướng khí. Khói vào mồm ko theo thường độ, một lúc nó chạy khắp người, làm cho khắp cơ thể trong người thông khoái, thay được rượu, được chè, cho nên người ta còn gọi là Tương tư thảo. Nhưng hơi lửa nung nấu, hao huyết, tổn thọ mà người ta ko biết. Thật khó sửa chữa…”.

Cũng theo nhà bác học Lê Quý Đôn, sau 5 năm nhập tịch Đại Việt, Cỏ tương tư bị nhà chức trách triều Lê ra lệnh cấm. Người ta tin rằng thuôc lào có thể trừ được các bệnh phong hàn, sơn lam, chướng khí nên thuốc được mau chóng phổ biến. Nhưng thuốc lào đôi khi lại là nguyên nhân gây ra nạn cháy nhà lớn vì phổ biến thời bấy giờ là nhà tranh vách nứa. Ông chép: “Đời Cảnh Trị (vua Lê Huyền Tông,1665), hai lần hạ lệnh nghiêm cấm hút thuốc, lùng bắt những kẻ trồng thuốc, bán thuốc hay hút thuốc giấu, mà ko tuyệt được. Nhiều người khoét tre, làm ống điếu (điếu cày), lại chôn điếu sành xuống đất mà hút, tàn đóm còn lại thường sinh hỏa tai (hỏa hoạn). Lâu lâu, bỏ lệnh cấm ấy, bấy giờ nhân dân hút lại như thường”.

Ngày nay, chúng ta chưa có một nghiên cứu nào thấu đáo về sự ra đời của những điếu cày, điếu bát nhưng có lẽ do lệnh cấm nghiêm ngặt dưới thời Huyền Tông mà các tín đồ Tương tư thảo ngày xưa đã phân ra làm hai nhánh: thuốc lào và thuôc lá; nhánh thuốc lào buộc phải thích nghi để tồn tại bèn sáng chế ra những “thiết bị” độc đáo này rồi chôn xuống đất hoặc đục lỗ thân tre tươi trong vườn nhà để hút mà vẫn qua mắt được nhà chức trách của triều đình (?). Ấy thế mới có câu:

Nhớ ai như nhớ thuốc lào/Đã chôn điếu xuống, lại đào điếu lên.

Đúng là tương tư đến độ bứt rứt, tương tư đến quằn quại!

Chép trong tác phẩm “Một chuyến đi”, nhà văn tài hoa Nguyễn Tuân đã cho thấy độ phê của nhà văn trong một lần xa quê và được rít quả thuốc lào quê hương: “Tôi rít hơi thuốc tưởng tụt được nõ điếu. Tiếng nước kêu lóc cóc, giòn giã trong điếu bát như tiếng âm nhạc quốc ca. Trông đám khói xanh cuồn cuộn từng vòng đặc, tôi thấy hình ảnh của cả một quê hương. Đấy, chỉ một tí tẹo như thế ở đất khách đủ làm cho người ta nặng lòng quê hơn một bài quốc sử thì có lạ không?”. Và nữa: “Hay nhỉ, vẫn cái đám khói xanh cuồn cuộn từng vòng đặc ấy, khi người ta ở trong xứ người ta thì nó chẳng vẻ nên được hình ảnh gì. Mới hay quê hương có khi chỉ đơn giản là… dúm thuốc lào. À không, là dúm cỏ tương tư chứ.” Hihi…

Ngày nay, trong thơ, ca, nhạc, họa nước ta cũng đã xuất hiện nhiều tác phẩm để đời với hình ảnh trung tâm là Cỏ tương tư, là chiếc điếu cày, điếu bát, là làn khói xanh cuồn cuộn thật huyền ảo, cuốn hút và ma mị. Ừ thì… cái gì lạm dụng quá mức mà chả sinh tai họa, từ rượu chè, thốc lào, thuốc lá cho đến cả…chị em!

Mới đây, trên diễn đàn mạng lùm xùm vụ một nhà báo viết bài khắc họa về chân dung đời sống thực của nhạc sỹ tài hoa Trúc Phương, khi nói rằng, tác giả của nhạc phẩm bolero nổi tiếng “Thói đời” có một cuộc sống vô cùng bần hàn, khổ hạnh, nghiện ngập rượu, chè, thuốc lá…Nhưng sự thật thì ko phải vậy, người con gái của nhạc sỹ đã ở bên cạnh ông đến lúc lâm chung, đã cực lực phản bác bài viết của nhà báo nọ. Cô khẳng định: Ba tui ko giàu có nhưng cuộc sống ko đến nỗi nào, ông ko uống rượu, chỉ uống Cocacola thui, còn thuốc lá thì có (nghiện.)…

Cũng vì thế nên mới có: “CỎ TƯƠNG TƯ muộn phiền lên xám môi” mà sau này các ca sỹ cứ nhầm lẫn do quen mồm hoặc ko hiểu ý nên hát sai: “Cỏ ưu tư muộn phiền lên xám môi …”. Cỏ tương tư = thuốc lá, thuốc lá mới “muộn phiền lên xám môi”, còn “cỏ ưu tư” ko có nghĩa. “Cỏ tương tư” đi cùng với “Rượu trần ai” ở câu trên tạo nên một hình ảnh rất phiêu, rất bụi, rất phong trần của một kẻ “trót sa vũng lầy nhân thế”. Mà gớm, tay nhà báo bàn phím kia có nhầm lẫn cũng là phải thui, chứ “rượu trần ai” gì mà ghê quá, nâng lương, lên chức… người ta chỉ có thể “Rửa” thôi mà đã quắc cần câu cả đám, đằng này lại còn “Gội”: “Rượu trần ai GỘI niềm cay đắng” hehe…   

Gửi phản hồi