Phần 4: Sử Tàu đánh tráo, sử gia Việt mắt mờ?

Trở lại với nội dung bài viết của tác giả BVTC như đã nói ở phần đầu bài viết, tác giả này quả quyết rằng “sử gia Việt mắt mờ, bị sử Tàu đánh tráo khái niệm, đánh tráo thời gian…” Vậy họ (sử Tàu) đánh tráo để nhằm mục đích gì hay cụ Tư Mã Thiên thấy cụ Đà nhà mình “sang” cũng muốn bắt quàng làm họ? Liệu nói vậy có hồ đồ không?
Nói chuyện hồ đồ lại nhớ đến trận tứ kết lượt đi Giải bóng đá AFF Cup vừa qua giữa 2 kỳ phùng địch thủ VN-TL, trận đấu kết thúc với tỷ số mà chả có người Việt nào muốn nhớ: 0-2 (may kiú đc quả penalti). Buồn, thật buồn! Tiếc, thật tiếc! Và tức, cũng thật là tức! Nhưng bóng đá là vậy, tình chỉ đẹp khi còn dang dở, để giải lần sau còn hy vọng, còn chờ đợi và còn hứng thú… Tuy nhiên điều đáng buồn hơn sau trận đấu, nhiều CĐV VN lại giận cá chém thớt, giận quá hóa… hồ đồ, đổ tất tần tật trận thua cho ông trọng tài ròm người Qatar, trong khi còn tới 90 phút lượt về nữa, mà cùn tuốt có ghi được bàn nào đâu! Gớm, họ lên Phây, vào Du tút, lội Tuýt tờ… kéo nhau truy tìm bằng được trang chủ của một đối tượng nguy hiểm có tên Al-Adba Saoud Ali, có hộ khẩu thường trú ở bờ Tây vịnh Hormus để… hỏi cho ra nhẽ: Tại sao ông ko thổi phạt đền TL mà lại thổi VN; tại sao rút thẻ vàng nặng tay với cầu thủ Việt; tại sao ko rút thẻ đỏ với thằng ranh con (thủ môn) Thái?…vân vân và vân vân. Thế là mấy ngày liền mạng In tẹc lét quay tít thò lò, chị Gu gồ, anh Du tu be, chú Phây bút …được dịp thu tiền quảng cáo khủng, còn tay trọng tài ròm (và cả Tổ vua áo vàng) đã bắt đúng bài lặn mất tăm hơi, đưa dàn CĐV Việt quá khích rơi vào thế việt vị (mà ông này nghe đâu chỉ có bằng giả trình độ “F” Tiếng Việt!) nên cuối cùng ta lại chửi ta, ta thắng ta bằng đúng phép chiến thắng tinh thần của AQ.
Quả thực, CĐV Việt ta xem bóng đá quá máu lửa, nặng về màu cờ sắc áo, điều này cũng là tốt, là thể hiện tình yêu dành cho Đội tuyển, cho bóng đá, cho thể thao nước nhà mà nói xa hơn là tình yêu Tổ quốc, yêu nước. Nhưng ôi thôi, lòng yêu nước ngày nay sao mà biến hóa khôn lường, có người yêu bằng cách đua xe bất chấp mạng sống của người khác, có người đập phá điên loạn, có người phát ngôn ngông cuồng bất chấp phép nước… thậm chí lại có người tự vỗ ngực là mình yêu nước theo “cách riêng” mong cho nền kinh tế VN chóng sụp đổ trong dịch bệnh, ngồi tụm cà phê bên kia đại dương mà hả hê, mong cho Cô vi tràn vào VN gây hậu quả thật thảm khốc, xã hội biến loạn để còn yêu… theo cách của bạn (!)

Nói như vậy thì dường như ta đi quá xa, quá to tát, nhưng là để thấy được rằng ngày nay việc phát biểu chính kiến, phát ngôn phản biện xã hội là nhu cầu tất yếu và là quyền của mỗi người, nhưng việc mượn chuyện passport Việt của cụ Đà gây bão trên báo chí và MXH gần đây của một số người là điều cũng đáng suy ngẫm.
Nhân chuyện nói sử Tàu đánh tráo, hay mức độ chính xác và tin cậy từ ngòi bút của cụ Thiên trong SKTMT cũng cần tìm hiểu, ngâm kiú thêm một tẹo.
Vâng, khi đã nói đến sử Tàu (cổ) thì cứ phải nói đến Sử ký của cụ Tư Mã Thiên, mà nếu tui nói sai thì xin quý zị xem lại điều một. Về thân thế của cụ Thiên chắc cũng ko cần phải nói nhiều (mà có biết nhiều đâu nói!), chỉ cần biết rằng giới sử học thế giới đều gọi cụ bằng một cái tên đầy kính trọng Thánh sử. Theo cuốn “Sử ký Tư Mã Thiên” do 2 soạn giả Giản Chi và Nguyễn Hiến Lê giới thiệu, trích dịch và chú thích (NXB Văn học hiệu đính và xuất bản năm 2013) thì cụ “Thiên (tự là Tử Trường) sinh ở Long Môn, chưa biết chắc vào năm nào…” (Tiểu sử Tư Mã Thiên, Tr.24). Một số giả thuyết cho rằng cụ sinh năm 163/TCN, nhưng phần lớn đều ghi năm 145/TCN, thôi biểu quyết cho chắc: 145/TCN. Còn cụ mất năm mô thì cũng ko ai biết nốt, giới sử học thế giới kể cả Trung Của đều tịt, ko có tư liệu. Ngày nay họ chọn năm sinh cho cụ là năm “145/TCN” ghi trên Google cho đẹp có lẽ dựa vào 2 mốc: 1- Là cụ có chuyến du lịch dài ngày đi khắp TQ vào năm 20 tuổi (chừng 3 năm, chắc cụ ko đi máy bay!); 2- Là sau chuyến khảo sát khi về Trường An thì cụ được bổ chức Lang trung (khoảng năm 122 đến 126/TCN), sau thăng Thái sử lệnh (108/TCN), sau khi bố Đàm của cụ qua đời (210/TCN).
Nói cụ đi du lịch là cho oai, chứ thực ra cụ kết hợp du lịch để khảo cứu thực tế lịch sử cổ đại chuẩn bị trước khi được bổ nhiệm làm quan sử lệnh nối nghiệp cha và để viết Sử ký, ko phải ngồi đợi gõ Gu gồ như một số nhà ngâm kiú thời hiện đại. Theo sách dịch SKTMT của cụ Chi, cụ Lê thì cụ Thiên: “Tóm lại là (đi) gần khắp Trung Hoa, chỉ trừ hai tỉnh Phúc Kiến và Quảng Đông ngày nay, còn thì chỗ nào ông cũng từng đặt gót lên, nhận xét về các di tích, về ngôn ngữ, sinh hoạt, nỗi vui nỗi buồn của dân chúng…” (Tiểu sử Tư Mã Thiên, Tr.26). Ở đây, thật tiếc hai nơi mà cụ Thiên chưa từng đặt chân đến (vì ko có hộ chiếu!) lại là nơi ta cần cụ viết đậm lên trong Sử ký, vì đương thời 2 nơi này độc lập với Hán mà người Hán gọi là ngoại quốc hoặc phiên quốc, đó là Mân Việt (Phúc Kiến ngày nay) và Nam Việt của cụ Đà nhà mình. Tuy nhiên, khi cụ Thiên hoàn thành tác phẩm nổi tiếng của mình (97 hoặc 91/TCN) thì cũng là lúc Nam Việt và Mân Việt đã bị Hán thôn tính chừng 14 năm trước đó (111/TCN).

Giới nghiên cứu lịch sử ngày nay chỉ biết về cụ qua 2 tư liệu là: Thiên thứ 130 trong phần Liệt truyện (Thái sử công tự tự) và bức thư cụ viết cho người bạn tên là Nhiệm An, lúc buồn khổ nhất của cuộc đời. Cụ là người thông minh, tài giỏi, lúc lên 10 đã đọc được sách cổ (sách đời Tiên Tần), cụ làm quan đến chức Thái sử công dưới triều Hán Vũ Đế, một ông vua khét tiếng tàn bạo, nhưng lại nổi tiếng bậc nhất nhà Hán về nghiệp đế vương, người đã đẩy cụ vào vòng lao ngục và phải tức tưởi chịu cung hình (thiến) trong một vụ án khá lãng xẹt (Vụ án Lý Lăng, tội dám cãi nhời sếp nhớn).
Về tác phẩm SKTMT như đã nói trước đó, nó là bộ sử được xếp đầu bảng trong “Nhị thập tứ thư” của TQ và là tác phẩm lịch sử kinh điển của thế giới chứ ko riêng gì Tàu. Cụ Thiên viết ra nó với sự thành tâm đáng kính, xem như sứ mệnh của dòng tộc Tư Mã và di nguyện chí cốt của người cha trước khi lâm chung phó thác, để đạt được “nhất gia chi ngôn” theo như Khổng Tử chứ ko phải như bọn đao bút viết ra để “xôi thịt”, để đánh tráo thiên hạ rồi hả hê với thành tích nhiều likes trong cái xã hội đương thời triều Hán Vũ Đế. Trong 130 thiên của SKTMT, cụ dành ra 6 thiên để viết về các nước lân bang, trong đó có Nam Việt nhà ta ở phần Liệt truyện gồm: Nam Việt (thiên 113); Hung Nô (thiên 110); Đông Việt (114); Triều Tiên (115); Tây Nam Di (116) và Đại Uyển, Ô Tôn, Đại Nhục Chi, An Túc (123). Cũng vì đó mà tính chân thực và độ chính xác đáng tin cậy luôn được cụ đề cao trong tác phẩm, là giá trị lớn nhất, xuyên suốt để hậu thế phải gọi nó là Bản sử gốc của nhân loại.
Giá trị chân thực của SKTMT có lẽ được xác định trước hết 3 yếu tố sau:
1- Là cụ tiếp thu được nguồn tư liệu nóng hổi và dồi dào (do gia tộc để lại), đặc biệt là thời nhà Tần (Tần Thủy Hoàng) chỉ trên dưới trăm năm và nhà Hán (có cả Nam Việt) đang diễn ra trước mắt cụ. Theo nhà nghiên cứu LS Nguyễn Hiến Lê thì SKTMT chép sử kéo dài trên 2 ngàn năm từ thời Hoàng Đế (2697-2598/TCN) đến niên hiệu Thái sơ (104-101/TCN) đời Hán Vũ Đế mà cụ đang sống, tức cụ đã âm thầm vẽ chân tướng cả nhà họ Lưu, dám chê bai về đạo “tu tề trị bình” của cả Cao Tổ Lưu Bang đến sự tàn độc của Vũ Đế Lưu Triệt.
2- SKTMT khi ghi chép cũng như khi được công bố ko chịu áp lực bởi yếu tố chính trị, ko bị kiểm duyệt bởi chính quyền của vương triều Hán Vũ Đế. Khoảng 30 năm sau, SKTMT được công bố lần đầu tiên dưới thời Hán Tuyên Đế (73-48/TCN) do người cháu ngoại cụ là Bình Thông hầu Dương Uẩn (con bà Tư Mã Anh, người con gái duy nhất của cụ) và đặt tên cho tác phẩm cái tên Thái sử công dư chí rồi người đời dần gọi SKTMT hay gọn hơn là Sử ký, còn cụ chưa kịp đặt nó tên gì. Có lẽ đây là lúc môi trường chính trị đã thoáng hơn phù hợp để Dương Uẩn thực hiện theo di nguyện của ông ngoại.
3- Lần đầu tiên trong LS Tàu (và cả thế giới), sử gia loại bỏ yếu tố hoang đường trong ghi chép về thời thượng cổ, cái mà cụ Liên, cụ Hy nhà ta sau này ghi là quái đản!
Vậy độ chuẩn xác của SKTMT đã rõ, còn nếu có sự đánh tráo của sử Tàu trong SKTMT thì để nhằm mục đích gì khi đất Việt (Giao Châu) ngàn năm sau vẫn chìm sâu trong nô lệ bắc thuộc, trước khi cụ Hưu và các sử gia nhà Trần tiếp cận khảo cứu, trích lục nó rồi tham khảo Việt sử lược để viết nên Đại Việt sử ký?

Theo khảo cứu của nhà sử học Nguyễn Hiến Lê: đến đời nhà Đường (TQ) thì nhiều học giả nghiên cứu lại và cho rằng nội dung SKTMT ko có xê dịch, mất mát nhiều, ngoại trừ thiên 12 (Hiếu Vũ Đế) bị thiếu hoặc mất trước đó mà một người khác viết thay vào, đó là Trử Thiếu Tôn (TK I/TCN). Người đời sau cho rằng trong thiên 12 này cụ Thiên đã phạm thượng nặng đến Hán Vũ Đế nên đến đời sau cháu con họ Lưu sai Trử Thiếu Tôn lấy đi và viết thay vào (có bút tích để lại). “Như vậy, tuy có bị sửa đổi, nhưng ko có hại gì lớn cho tác phẩm và so với cổ thư của phương Tây (Thế kỷ thứ nhất sau TL) chẳng hạn các bộ sử của Tite (Thế kỷ thứ nhất trước TL), Tacite (Thế kỷ thứ nhất sau TL) thì Sử ký (SKTMT) được bảo tồn kỹ lưỡng hơn nhiều.” (Sử ký Tư Mã Thiên – Giản Chi, Nguyễn Hiến Lê, Tr95).
Vì vậy, nhà văn Lỗ Tấn từng cho rằng SKTMT là “tuyệt xướng của sử gia, là Ly Tao không vần”’, còn các nhà bác học Tây phương khảo về cổ học Trung Hoa đều ghi nhận SKTMT là tác phẩm bất hủ của nhân loại; người Pháp có bản dịch của Edouard Chavannes, người Mỹ có bản trích dịch của Burton Waston, người Nga, người Đức, người Anh và còn nhiều bản dịch khác…Vậy việc đánh tráo là để làm gì?
Bách Việt – và việc người Nam thờ cúng cụ Đà.
Nếu bỏ qua và ta tạm quên đi chuyện chiếc nỏ thần liên châu mà cô giáo giảng ngày xưa để xét về cái đức tu tề trị bình, trị quốc, an dân của cụ Đà với Nam Việt thì đúng như cụ Hưu nói, cụ Đà có công tích lớn lao chứ! Cụ muốn xây dựng một Nam Việt độc lập khác Hán. Cụ có công khởi nghiệp dựng nước gần trăm năm (207-111/TCN) trên nền cũ rộng lớn (nam sông Dương Tử) của nước Việt cổ, quê hương của nàng Tây Thi, nơi có vị vua nổi tiếng thời chiến quốc Việt Câu Tiễn, dùng mỹ nhân kế, nuôi chí nằm gai nếm mật để đánh bại Ngô vương Phù Sai rửa hận cho nước mà ta đã xem trên phim í. Nước Việt này sau lại bị Sở thôn tính rồi bị diệt vong vào năm 333/TCN để con cháu Việt lưu lạc tận Nhật Bản. Triều Tiên, Nam Dương, Xiêm La…nhưng than ôi đó ko phải là nước “Việt ta” mà là nước “Việt của chúng ta”!
Trong một nghiên cứu nhà sử học Đào Duy Anh từng cho rằng có đến hơn 500 bộ tộc Việt cùng chung sống trên miền đất phía nam Ngũ Lĩnh gọi chung là Bách Việt (ko phải dân tộc Việt ngày nay), là cách gọi của người Hán đối với những dân tộc phía nam Dương Châu, ngoài dân tộc Hán. Tuy nhiên, khi ghi chép sử, chuyện của ngàn năm việc có nhầm lẫn đâu đó đã đành, đằng này lại cố nhầm lẫn, cố vơ vào, bắt quàng vào sao mà kệch cỡm, dị hợm đến vậy hỡi các nhà lật sử ?

Đã từ lâu, người Việt ta thờ cúng cụ Đà cũng là chuyện đương nhiên, khi một vương triều có công tích lớn lao, xướng lĩnh quân dân Việt dẹp giặc giữ yên bờ cõi như nhà Trần đã chính thức công nhận cụ, còn truy phong Khai Thiên thế đạo Thánh vũ thần triết Hoàng đế thì việc người ta xây đền, đúc tượng cụ cũng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, việc một ngôi làng có tuổi đời chừng 600 năm, có cụ Tổ nghề chạm bạc khởi nghiệp vào niên hiệu Chính Hòa thứ 10 (triều Lê Trung hưng), tức là trước khi cụ Hy rập khuôn mộc bản bộ Đai Việt sử ký toàn thư (bản Chính Hòa 1697) chừng 8 năm, trong khi các nhà “Bách Việt cuồng” phỏng vấn ông thủ từ ngôi đền làng (đền thờ vua Triệu + Tổ nghề bạc) về thân thế cụ Đà, ông này trả lời vanh vách chuyện của hơn 2 ngàn năm trước, giống như chuyện ông vừa uống rượu vặt với ông bạn mới chiều qua vậy, liệu tin được không? Hihi.
Cũng nói về việc hương khói cụ Đà ở VN, học giả Đào Duy Anh viết: “Cũng là do lộn huyện Chân Định ở TQ là quê hương của Triệu Đà với Chân Định ở đây mà nhiều nơi lập miếu thờ Triệu Đà” (Đại Nam nhất thống chí, Phan Trọng Điềm – Đào Duy Anh dịch và hiệu đính).
Để kết thúc bài viết, tác giả xin mượn lại đoạn sô lô của cụ Sỹ (Ngô Thời Sỹ) trong tác phẩm Việt sử tiêu án, cụ Sỹ viết: “Xét sử cũ, An Dương Vương mất nước, để quốc thống về họ Triệu, chép to 4 chữ ‘Triệu kỷ Vũ Đế’. Người đời theo sau đó ko biết là việc không phải. Than ôi! Đất Việt Nam Hải, Quế Lâm ko phải đất Việt Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam. Triệu Đà khởi binh ở Long Xuyên, lập quốc ở Phiên Ngung, muốn cắt đứt bờ cõi, gồm cả nước ta vào làm thuộc quận, đặt ra giám chủ để cơ mi lấy dân, chứ chưa từng đến ở nước ta…” Hết.






































Một suy nghĩ 2 thoughts on “THẤY NGƯỜI SANG BẮT QUÀNG LÀM HỌ (Kỳ cuối)”