Chuyện ông Bá Di

Ảnh minh họa

Chuyện về ông Bá Di thì nhiều người biết, vì người đời hay kể chuyện và ca công tụng đức của ông.

Bá Di, một nhân vật sống vào cuối thời nhà Thương ở TQ. Bá Di được sử gia Tư Mã Thiên chọn đưa vào trang đầu phần Liệt truyện (thiên 61) trong tác phẩm Sử ký, gồm 130 thiên nổi tiếng của ông. Bá Di liệt truyện đọc lên nghe cũng thường thường và có vẻ như là một điển tích, một giai thoại huyễn hoặc hơn là một câu chuyện lịch sử, tuy nhiên qua cách trình bày ở đây ta cũng thấy thấm đẫm nỗi lòng phẩn uất thầm kín của một người chép sử xưa, người dẫn chuyện vĩ đại thời Tây Hán – Thái sử lệnh Tư Mã Thiên.

Chuyện rằng, Bá Di, công tử cả của vị vua nước Cô Trúc, một tiểu quốc chư hầu thời Nhà Thương, đời vua Trụ. Trước khi qua đời, vị vua cha của Bá Di muốn lập người em trai út Thúc Tề, mà không chọn anh cả Bá Di kế nghiệp. Thúc Tề vì nể anh cả, nhất quyết không chịu đăng quang, có ý nhường lại ngôi báu cho Bá Di, trong khi Bá Di cũng né tránh không chịu nhận về mình vì đó là di nguyện của vị vua cha đáng kính. Kết quả của cuộc đại từ chối vĩ đại này là, cả hai anh em nhà ông Di đều lần lượt bỏ trốn, ra đi tìm nơi ẩn dật và chấp nhận cuộc sống tha hương xứ người; thần dân tiểu quốc Cô Trúc bỗng chốc hóa bơ vơ, đành suy tôn người con giữa của vị vua quá cố lên ngôi kế nghiệp cha.

Ông Di ra đi hướng về phía tây, hai anh em không hẹn mà gặp tại một nước chư hầu khác, nơi mà các ông đã từng nghe ở đó có ông Tây bá Xương tỏ rõ là một đấng minh quân bậc nhất thiên hạ, đến để quy phụ làm thần dân xứ ấy. Khi hai ông đến nơi, Tây bá Văn Xương vừa qua đời, một người con lên nối ngôi là Vũ Vương. Cha chết, Vũ Vương đưa linh cửu và bài vị vua cha để truy hiệu Tây bá Xương là Văn Vương, rồi cất quân tiến về đông chỉ huy các chư hầu khác quyết dẹp nạn loạn Ân (Trụ vương) nhằm phế bỏ ngôi thiên tử nhà Thương đang lúc suy đồi, dâm loạn.

Ông Di, ông Tề thấy đại quân chư hầu kéo về kinh đô Ân Khưu để hạ bệ Thiên tử nên bất bình ra đứng chặn đường quân đông tiến, dập đầu trước ngựa mà can với Vũ Vương rằng: “Cha mất mà không chôn, lại gây việc can qua (gây chiến tranh) có đáng gọi là hiếu không? Làm tôi mà giết vua (vua Trụ dâm loạn) thì có đáng là nhân không? …”

Nghe đến đó, thuộc hạ của Vũ Vương định chém đầu hai ông, nhưng may thay trong hàng quân có một vị Thái công đi cùng có đủ dũng khí can rằng: “Hai người này là nghĩa sỹ, hãy tha cho họ…” và đỡ hai ông đứng dậy rồi thả cho đi.

Sau khi cuộc đông chinh thắng lợi, Vũ Vương dẹp được nhà Ân, lên ngôi lập ra nhà Chu (Tây Chu, kỉ XI – 771/TCN). Bấy giờ, thiên hạ đã đến lúc thái bình, ai cũng suy tôn Vũ Vương, quy phục nhà Chu, duy chỉ hai anh em nhà ông Di không phục. Bá Di, Thúc Tề cho rằng hành động của Vũ Vương là không chính đáng, là bạo thần đáng xấu hổ nên quyết giữ nghĩa khí mà không chịu dùng sản vật, ăn thóc gạo nhà Chu, rồi lui về ẩn dật ở núi Thú Dương hái rau vi, đào củ rừng sống qua ngày. Đến khi đói sắp chết ông Di có thơ rằng: “Lên núi Tây kia chừ, rau vi ta hái /Bạo ngược thay bạo ngược chừ, chẳng biết là tráí /Thần Nông, Ngu, Hạ chừ, qua mau làm sao! /Ta biết về nơi nao? /Than ôi, chết thôi, vận mệnh giờ suy rồi!” (theo Sử ký Tư Mã Thiên, NXB Văn học 2013 của Giản Chi – Nguyễn Hiến Lê).

Rồi hai ông chết.

Ẩn dật ở núi Thú Dương – Ảnh minh họa

Câu chuyện ông Di, ông Tề không màng danh lợi, không tham vọng quyền lực đến đó là hết, còn việc người đời tin hay không là chuyện khác, chắc phải dựng dậy rồi hỏi các nhà hiền triết, học sỹ đã soạn ra những bộ kinh thư thời thượng cổ Trung Hoa, cùng thời với Vũ Vương, thì may ra mới biết tường tận được. Riêng ở điểm này, cụ Tư Mã Thiên nghiền ngẫm rất kỹ, nhưng khi viết Bá Di liệt truyện cụ lại dựa vào một niềm tin cũng khá mỏng manh.

Ngay khi mở đầu Bá Di liệt truyện, cụ (Tư Mã Thiên) loanh quanh đi giải thích cho niềm tin ấy. Xưa nay chuyện về những ẩn sỹ lưu danh trong thiên hạ thì nhiều vô kể, cả Tàu Tây Ta đều có; nào Hứa Do, Biện Tùy, Vụ Quang…vua truyền ngôi cho mà không nhận, lộc lá cứ nườm nượp mà vẫn ko màng… theo cụ Thiên thì những chuyện ấy ko đáng tin, phải đem cả 6 kinh (tức Lục kinh: Dịch, Thi, Thư, Lễ, Nhạc, Xuân thu) ra mà khảo chứng, nếu thấy có ghi thì mới tin là có thật và chép lại! Cụ Thiên chép vào Sử ký chuyện Bá Di cũng chỉ vì thấy có ghi chép trong kinh Xuân thu của đức Khổng Tử (ra đời trước ông chừng 400 năm), mà biết đâu Khổng Khâu cũng chỉ nghe qua hệ thống tuyên truyền mồm hoặc chép lại từ một thư tịch cổ do ai đó cố ý nặn ra nhằm để răn đời, để “văn dĩ tái đạo” thì liệu có đáng tin vì chuyện đã xảy ra cách ngày giỗ đầu cụ Khổng chừng 500 năm trước đó?

Nói về công đức Bá Di, Thúc Tề, cụ Thiên viết: Có người bảo “đạo trời không thân riêng với ai mà chỉ thân với người thiện”. Như Bá Di, Thúc Tề có đáng gọi là người thiện hay không đây? Chứa chất điều nhân, thanh khiết đức hạnh, thế mà chết đói! Và trong bảy chục môn đồ, Trọng Ni (Khổng Tử), chỉ khen riêng Nhan Uyên là hiếu học mà Nhan Hồi (Uyên) thường xác xơ, ăn tấm ăn cám mà cũng không được no, lại chết yểu. Trời kia báo đáp người thiện mà như vậy ư?…Rõ ràng, lúc này cụ Thiên viết không chỉ để giải bày cho nỗi lòng oan khuất của Bá Di, Thúc Tề với đạo trời, mà còn là rấm rứt, tỉ tê với chính nỗi lòng mình, một Thái sử lệnh chính trực, đầy phẩm tài, đức hạnh muốn can gián với Hán Vũ Đế nhằm minh oan cho võ tướng Lý Lăng để rồi cuối cùng rước họa vào thân, phải chịu chọn nỗi nhục “cung hình” (thiến) thay vì phải chết, cốt để hoàn thành nốt bộ Sử ký để lưu truyền muôn đời cho hậu thế. Cụ viết: “Đạo chích (cướp) ngày nào cũng giết người vô tội, nướng thịt người làm chả…hoành hành trong thiên hạ mà được chết già, thế là nhờ vào đức gì vậy?” Và:  “Đến như đời gần đây có những kẻ hành vi và hạnh kiểm bất chính, chuyên phạm những điều kị húy mà suốt đời nhàn nhã vui vẻ, giàu sang truyền mấy đời không hết; còn những người chọn đất rồi mới bước, lựa lúc rồi mới nói (kiểu như uốn lưỡi bảy lần – TG), đi ko theo đường tắt, ko phải việc công minh, chính trực thì ko phấn khởi thi hành, mà lại gặp tai họa, hạng đó nhiều ko kể xiết. Cho nên tôi rất nghi hoặc cái gọi là ‘Thiên đạo’ kia, phải chăng, trái chăng?…”.

Và cứ thế, dường như cụ Thiên cũng chẳng còn tin cái đạo Trời kia, vì nếu như Thiên đạo kia ứng nghiệm, quả nhiên anh em nhà ông Di, ông Tề ko phải sống thê thảm và chết đói nơi xó núi Thú Dương. Cũng may thay, các ông đã sống vào cái thời ô trọc, thiên hạ đảo điên, lại nhờ được Xuân thu, Sử ký… ghi chép lại mà thanh danh càng được sáng ngời và lưu truyền hậu thế. Sách Luận Ngữ (chương Tử hãn) viết: “Tiết trời có lạnh rồi mới biết rằng cây tùng, cây bách rụng lá sau loài cây khác. Thiên hạ ai nấy đều ô trọc thì kẻ sỹ thanh khiết mới được hiển lộ, như vậy thì đâu phải là người có đức, trọng cái kia mà khinh cái này”…và “Người quân tử hận rằng chết rồi mà danh không được lưu truyền” (chương Vệ Linh công), vậy thì anh em nhà ông Di chắc cũng ko còn gì để hận cả, vì ngay cả người anh em của hai ông, người bất đắc dĩ kế vị ngai vàng Cô Trúc cũng đã có sử sách nào ghi chép lại đâu! Cụ Thiên bảo: Bá Di, Thúc Tề tuy hiền, nhờ có phu tử (tức Khổng Tử chép lại), mà danh mới càng rực rỡ. Nhan Uyên tuy gắng học, nhờ bám vào đuôi ngựa kí, mà đức mới càng được rỡ ràng… “Đuôi ngựa kí” ở đây cụ Thiên muốn nói, chỉ cần một lời khen của thầy Khổng mà người học trò nghèo Nhan Uyên mãi mãi được lưu danh, giống như loài ruồi, nhặng bám theo cái đuôi một con chiến mã rong ruổi trên đường thiên lý, ngày đi xa ngàn dặm, chứ sức đâu mà tự thân loài côn trùng bé nhỏ kia theo kịp, để mà còn mong được lưu danh!

Về nỗi oán thán của anh em nhà ông Di, thì đức Khổng bảo là không, nhưng đến lượt cụ Thiên thì cứ nhem nhẻm cãi thầy bảo là . Thầy Khổng bảo: “Bá Di, Thúc Tề ko nhớ điều ác trước của người, nên ít oán người, cầu nhân thì được nhân, còn oán cái gì”. Còn cụ Thiên lại mang bài thơ của hai ông trước lúc chết đói ra mà phân tích thì bảo là oán: “Tôi buồn cho tấm lòng của Bá Di, đọc bài thơ còn truyền lại của mấy ông, thấy như có lòng oán thán, điều đó đáng lấy làm lạ…; ý nói thầy Khổng nhận xét chưa sát về anh em nhà ông Di chăng, vì trước lúc chết hai ông còn có bài thơ nói lên nỗi niềm thời thế, hai ông có biết đâu là giá trị đạo đức và lòng trung thành của mình đã trở thành biểu tượng và được lưu danh mãi muôn đời.

Nói tóm lại, Câu chuyện về Bá Di và Thúc Tề, hai anh em công tử nước Cô Trúc cuối thời nhà Thương, được sử gia Tư Mã Thiên ghi lại trong Sử ký, thể hiện lý tưởng đạo đức và nghĩa khí hiếm có. Hai anh em từ chối quyền lực vì muốn tuân theo di nguyện của cha, chọn sống ẩn dật, thanh bần để giữ trọn lòng trung thành và phẩm giá. Dẫu bị xã hội đương thời chê cười và phải chết đói trên núi Thú Dương, câu chuyện của họ vẫn trở thành biểu tượng của đức hạnh và sự thanh cao, được truyền tụng qua sách Xuân ThuSử ký.

Tuy nhiên, Tư Mã Thiên không chỉ kể lại sự việc mà còn dùng nó để bày tỏ sự nghi ngờ về “thiên đạo” – liệu người thiện có thực sự được báo đáp hay không – và đối chiếu với những bất công trong xã hội đương thời. Ông thầm tiếc cho số phận bi kịch của Bá Di và Thúc Tề, đồng thời bày tỏ nỗi lòng riêng về sự bất lực trước bất công.

Câu chuyện của Bá Di và Thúc Tề mang đến bài học vượt thời gian về lòng trung nghĩa, phẩm giá và sự bất khuất trước những cám dỗ vật chất hay quyền lực. Trong xã hội hiện đại, khi giá trị đạo đức đôi lúc bị xem nhẹ trước danh lợi, câu chuyện này nhắc nhở con người về sự cần thiết của một tinh thần thanh cao và lòng tự trọng.

Dẫu sự hy sinh của Bá Di và Thúc Tề có thể bị coi là ngây thơ hay lạc lõng, nhưng chính sự kiên định và không khoan nhượng trước điều sai trái đã làm sáng ngời danh tiếng của họ qua nhiều thế hệ. Câu chuyện cũng đặt ra câu hỏi về công lý và nhân quả – liệu những hành động thiện lương có luôn được tưởng thưởng xứng đáng, hay đôi khi giá trị của chúng chỉ được thời gian và hậu thế ghi nhận?

Trong bối cảnh hiện tại, sự thanh khiết trong tâm hồn như Bá Di, Thúc Tề là nguồn cảm hứng để mỗi cá nhân giữ vững lý tưởng sống, bất chấp khó khăn hay nghịch cảnh. Đạo Trời có thể không luôn công bằng, nhưng chính hành động và lòng dũng cảm của con người mới làm nên ý nghĩa trường tồn.

Long Biên tháng 01/2025

Gửi phản hồi